Hợp lớp truyền thống của Khoa triết khoá VIII

Ngày mùng 10/2 năm ất mùi. Theo truyền thống của khoa triết hàng năm lại gặp mặt để ôn lại những thời gian xa lớp triết thân yêu. Và cũng chia sẻ những công việc Phật sự nơi trú xứ mình đang ở. Năm nay cũng thế, đến ngày chư huynh đệ lại về. Nhưng vì những lý do khách quan một số chư huynh đệ vắng mặt không thể tham dự.

triết ơi! Nhớ nhé! Đúng ngày hẹn lại về. Có những giây phút xa cách rồi gặp lại mới thấy tình Tăng thân là đáng quý và đáng trân trọng đến dường nào. Mong rằng năm sau chư huynh đệ sẽ về họp mặt đông đủ.

theo như dự kiến ngày hợp mặt truyền thống của khoa sẽ thay đổi như sau:

Ngày họp mặt hàng năm là ngày: 20 tháng giêng của mỗi năm.

Tiền quỹ để duy trì cho hoạt động của khoa triết là mỗi thành viên sẽ đóng 500.000đồng/ năm. Chư huynh đệ có thể chuyển khoản cho Thầy Chúc Tựu nhé.

Kính chúc Chư Huynh đệ thân khoẻ Tâm an. Thành tựu thắng duyên trong mọi hoạt động Phật sự.

Thông báo khoa triết kính viếng Đại lão Hoà Thượng thượng Trí hạ Tịnh

thành viên có mặt 4g chiều ngày 30 tháng 2 tại chùa Vạn Đức. huynh đệ tự tục phương tiện di chuyển.

An Tấn kính báo

Cáo phó: Đại lão HT. Thích Trí Tịnh – Chủ tịch HĐTS GHPGVN viên tịch

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỘI ĐỒNG CHỨNG MINH

HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ

—— o0o ——

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——— o0o ———-

Hà Nội, ngày 28 tháng 3 năm 2014

 

CÁO PHÓ
– Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam

– Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Tp. Hồ Chí Minh

– Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

– Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tp. Hồ Chí Minh

– Môn đồ Pháp quyến vô cùng kính tiếc báo tin:

ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ TỊNH

HT-TTTinh

Đệ nhất Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội đồng Chứng minh; Chủ tịch Hội đồng Trị sự; Trưởng ban Tăng sự Trung ương GHPGVN; Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tp. Hồ Chí Minh; Viện chủ chùa Vạn Đức, quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh, Viện chủ chùa Vạn Linh, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Đại đoàn kết; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng tuyên dương Công đức của GHPGVN và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Do niên cao lạp trưởng, Đại lão Hòa thượng đã thu thần viên tịch vào lúc 09h15 phút ngày 28 tháng 3 năm 2014 (nhằm ngày 28 tháng 02 năm Giáp Ngọ) tại chùa Vạn Đức, số 502 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh.

Trụ thế: 98 năm Hạ lạp: 69 năm

Lễ nhập kim quan chính thức cử hành vào lúc 18h00 ngày 28 tháng 3 năm 2014 (ngày 28 tháng 02 năm Giáp Ngọ). Kim quan được tôn trí tại chùa Vạn Đức, số 502 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Phú, quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh.

Lễ viếng bắt đầu vào lúc 07h00 ngày 29 tháng 3 năm 2014 đến hết ngày 02 tháng 4 năm 2014 (từ ngày 29/02 đến ngày 03/3 năm Giáp Ngọ).

Lễ truy điệu được cử hành lúc 08h00 ngày 03 tháng 4 năm 2014 (ngày 04 tháng 3 năm Giáp Ngọ), sau đó cung thỉnh kim quan Đại lão Hòa thượng nhập Bảo tháp tại chùa Vạn Đức, quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh.

 

Nay Cáo Phó

 

 

 

 

 

 

 

 

TM. BAN THƯỜNG TRỰC HĐCM, HĐTS GHPGVN

MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN

TRƯỞNG BAN LỄ TANG

 

(đã ấn ký)

Hòa thượng THÍCH PHỔ TUỆ
Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam

thông báo họp mặt khoa triết lần thứ I

Thog bao. Hop mat truyen thog khoa triet lan 1. Luc 9h ngay 10 thag 2 am lich. Tai chua cua Chuc Tuu. 51/6, og bich khiem, p10,q11, hcm. Mog huynh de sap xep den de hd them tinh tham. Va chuyen thog bao den cac hd khac dum. Va cug hoi am de tien sap xep. Tran trog kih bao. An tan

lưu ý: huynh đệ đem theo ổ cứng để chép hinh

IMG_5468 IMG_5493 IMG_5502 IMG_5517 IMG_5592

THÔNG BÁO…..

V/V NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN PHẬT HỌC
TĂNG NI SINH KHÓA VIII VÀ ĐÀO TẠO TỪ XA KHÓA I ĐÃ TỐT NGHIỆP NGÀY 5/9/13 ĐẾN HỌC VIỆN NHẬN VĂN BẰNG, BẢNG ĐIỂM VÀ QUÀ TỐT NGHIỆP TỪ NGÀY 25/ 9/ 2013.

LƯU Ý: KHI ĐẾN NHẬN VĂN BẰNG, CẦN MANG THEO THẺ SINH VIÊN ĐỂ KÝ NHẬN. NẾU MẤT THẺ, SINH VIÊN PHẢI SUẤT TRÌNH CMND.

NAY THÔNG BÁO,

TM. HỘI ĐỒNG ĐIỀU HÀNH
PHÓ TỔNG THƯ KÝ KIÊM CHÁNH VĂN PHÒNG
Đ Đ. THÍCH GIÁC HOÀNG.

(CẬP NHẬT NGÀY 12-9-13)

thông báo các huynh đệ về việc viếng tang Ht Nhật Quang

Kính thưa các huynh đệ! Hòa thượng Nhật Quang, là bổn sư của thầy Trung Hiếu , thành viên trong khoa Triết. Hay tin Ht vừa viên tịch.

các huynh đệ tập trung kính viếng giác linh Hòa thượng vào lúc:

8h ngày 01  tháng 9 năm 2013 tại tổ đình Ấn Quang để đảnh lễ.

Ân Tấn kính báo

thông báo về nhận thẻ tốt nghiệp và lễ tốt nghiệp

sinh viên xem tại địa chỉ:  http://www.vbu.edu.vn/announcement/AP-231/Thong-bao-Vv-dang-ky-tham-du-le-tot-nghiep-Cu-nhan-Phat-hoc-nam-2013.html

lưu ý: tại xuống và xem bàng phần mềm dọc duôi pdf

tra điểm học kỳ I đến học kỳ VIII

kính thưa các huynh đệ! hiện nay, văn phòng học viện tổng kết điểm khóa VIII, và để tiện theo dõi cũng như kiểm tra điểm, trang web của học viện đã cập nhật hoàn chỉnh số điểm của các sinh viên từ học kỳ 1 đến học kỳ 8. sinh viên nên vào tra và kịp thời phản hồi về văn phòng để chỉnh sửa.

Cảnh giác tranh Vu Lan giả: Phía sau bức tranh Maria chít khăn mỏ quạ bồng chúa

 

Viết bởi BTV

anh vu lan giaTheo họ những người theo đạo Phật cũng quy ngưỡng về “ngôi hai” (chúa con) thôi, mà việc sử dụng hình ảnh Maria và chúa con là một biểu hiện cụ thể của chúa thánh thần linh ứng.

 

Qua hình ảnh từ nhiều trang mạng Phật giáo, chúng ta đều thấy trong dịp lễ Vu Lan vừa qua, bức tranh bà Maria chít khăn mỏ quạ bồng chúa hài đồng của hoạ sĩ là cựu sư huynh đạo Ca tô La Mã Vi Vi vẽ được nhiều chùa sử dụng để thể hiện tình mẹ con, trong trang trí sân khấu ca nhạc chào mừng và kể cả trong lúc hành lễ.

Ở một số chùa, 2 vầng hào quang phía sau bà Maria và Jesus hài đồng trong bức tranh được bỏ đi, nhưng có chùa vẫn giữ nguyên. Tuyệt đại đa số trường hợp hẳn là dùng lầm, vì nếu không biết xuất xứ và tên gọi của bức tranh, thì không ai nghĩ đó là Maria và chúa hài đồng, mà chỉ nghĩ là một bức tranh mẹ con Bắc Bộ và là một bức tranh đẹp.

Chúng ta không kỳ thị xuất xứ tác giả và thậm chí có thể nghĩ rằng, trường hợp hình ảnh bà Maria và chúa hài đồng như thế cũng có thể là một biểu tượng cho tình mẫu tử, và việc sử dụng nó trong lễ Vu lan không phải là một lầm lẫn đáng kể.

Nhưng, ở đây, chúng tôi xin lưu ý về những việc mà những người có toan tính thu hút tín đồ Phật giáo có thể khai thác sau sự việc này.

Từ sau Công đồng Vatiacan II, những lý thuyết gia của đạo Ca tô La Mã đã đưa ra những quan điểm mới đối với các tôn giáo không phải đạo Ca tô La Mã, trong đó có Phật giáo.

Họ bỏ đi các cách nghĩ về đạo Phật như thời Alexandre de Rhodes, để thay vào đó một sự tôn trọng chừng mực và lịch sự.

Thế nhưng, đối với các tôn giáo lớn, đặc biệt là tôn giáo có tư tưởng từ bi nhân văn như đạo Phật, bên cạnh sự tôn trọng còn có quan điểm xem Phật giáo (có thể gồm một số tôn giáo khác nữa) là sự mầu nhiệm linh ứng của chúa thánh thần, ngôi thứ ba của ba ngôi thiên chúa, ở những khu vực địa lý nhất định.

Cách nghĩ này có phần nào “tương tự” như khái niệm “thị hiện” trong đạo Phật.

Theo quan điểm giải thích này, thì Đức Phật và Phật pháp chẳng qua chỉ là việc “thị hiện” của chúa thánh thần ở Nam Á, Trung Á, Bắc Á, Đông Nam Á… vào một thời điểm nhất định mà thôi. Đức Phật, Phật Pháp, chư vị thánh tăng Phật giáo cũng “trực thuộc” đức chúa cha, là sự thị hiện của chúa thánh thần, mà họ thường gọi là “mầu nhiệm” thay cho từ “thị hiện” trong Đạo Phật.

Vậy nay, khi các chùa sử dụng hình ảnh Maria và chúa hài đồng trong lễ Vu Lan, thì đây là dịp tốt, để những người muốn thu hút tín đồ Phật giáo chứng tỏ sự “mầu nhiệm” đó.

Tức là, rồi thì theo họ những người theo đạo Phật cũng quy ngưỡng về “ngôi hai” (chúa con) thôi, mà việc sử dụng hình ảnh Maria và chúa con là một biểu hiện cụ thể của chúa thánh thần linh ứng.

Sự việc sẽ được làm ví dụ viện dẫn cho sự “mầu nhiệm” chúa thánh thần,đã đưa chúa con và đức mẹ vào chùa, thậm chí, làm cho tín đồ Phật giáo chắp tay hay quỳ lạy.

Vấn đề chính nằm ở chỗ này, lợi dụng việc lầm lẫn để hỗ trợ cho việc thu hút tín đồ Phật giáo, mà bây giờ, từ cải đạo được bỏ đi mà thay vào bằng cụm từ “trở lại đạo”, mà những người toan tính cố ý khai thác.

Vậy tranh Maria bồng chúa con, với sự thể hiện và lèo lái tinh vi như thế, trở thành một biểu tượng cho một cách, một bước “trở lại đạo”.

Mong rằng, trong mùa Vu Lan sau, Phật giáo chúng ta không lầm lẫn để có thể bị lợi dụng với những ý đồ như vậy.

526323_152297101635110_81347113_n (1)

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại TP.HCM

Hội Cựu Sinh Viên

Số:03/TM/HCSV/13                                                                 TP.HCM, Ngày 10-08-2013

THƯ MỜI HỌP MẶT TRUYỀN THỐNG HỘI CỰU SINH VIÊN

 

Kính gởi:  Chư Tôn Đức Tăng Ni Cựu Sinh Viên Học Viện PGVN TP.HCM.

Các Khóa I,II,III,IV,V,VI,VII .

Kính thưa Chư Huynh Đệ Cựu Sinh Viên,

-Căn cứ Biên Bản cuộc họp giữa Hội Đồng ĐHHV và Ban chấp hành Hội CSV ngày 02-05-2013 về Bổ sung nhân sự và chương trình hoạt động năm 2013 của Hội.

-Căn cứ vào Biên bản cuộc họp của ban Chấp Hành Hội CSV từ Khóa 1 đến khóa 7, vào ngày 17-07-2013, về chương trình hoạt động cụ thể của hội.

Ban Chấp Hành Hội CSV-HVPGVN-TPHCM trân trọng kính thông báo và cung thỉnh Chư Tôn Đức Cựu Sinh Viên HV-PGVN-TPHCM các khóa từ I đến VII. Hoan hỷ quang lâm về Thiền Viện Vạn hạnh , Học Viện Phật Giáo VN-TPHCM, vào lúc 8 giờ ngày 23-08-2013 tức là ngày 17-07- Quý Tỵ để tham dự lễ :

-Tiểu tường của Cố Đại Lão Hòa Thượng Viện Trưởng sáng lập.

-Buổi họp mặt truyền thống Hội Cựu Sinh Viên HVPGVN-TPHCM.

Chương trình như sau:

-08 giờ 00 Đón tiếp Chư Tôn Đức.

-08 giờ 30 Lễ tưởng niệm Hòa Thượng Ân Sư, Chư vị giáo sư và Chư Huynh Đệ CSV các khóa đã viên tịch.

-09 giờ 15 Lễ họp mặt truyền thống (Có chương trình riêng)

-11 giờ 30 Thọ trai

-13 giờ HT Viện trưởng mời Cựu Sinh Viên tham quan cơ sở mới của Học Viện tại Xã Lê Minh Xuân, Huyện Bình Chánh TP-HCM. ( sinh viên khóa 8 được xem là cựu sinh viên)

Kính mong Chư Huynh Đệ CSV sắp xếp công việc và dành thời gian tham dự lễ nói trên, thể hiện tấm lòng của người học trò đối với bậc ân sư khả kính và sự nghiệp giáo dục của HVPGVN.

Kính chúc Chư Tôn Đức Cựu Sinh Viên pháp thể khinh an, thành tựu mọi Phật sự.

Trân trọng,

TM.Ban Chấp Hành Hội CSV

Chủ Tịch,

TT Thích Viên Giác

THÔNG BÁO KHẨN……….

KÍNH MỚI QUÝ THẦY CÔ KHOA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐĂNG KÝ MAY ÁO CỬ NHÂN ĐẾN ĐỊA CHỈ SAU ĐỂ NHẬN ÁO.

VÌ KHÔNG GIAN EO HẸP KÍNH MONG QUÝ THẦY CÔ SỚM ĐẾN NHẬN ÁO ĐỂ TRẢ LẠI KHÔNG GIAN CHO CHÙA. MONG THAY!

THỜI GIAN ĐƯỢC TÍNH TỪ NGÀY( 10- 08- 13) CHO ĐẾN (19 – 08- 13) TUẦN TỚI LÀ HẠN CHÓT ĐỂ NHẬN ÁO.

ĐỊA CHỈ:
CHÙA KIM LIÊN 129/4 NGUYỄN HỮU HÀO, PHƯỜNG 6, QUẬN 4. TP. HỒ CHÍ MINH.

( NGAY GÓC TƯ ĐƯỜNG ĐỐI DIỆN VỚI TRƯỜNG HỌC VÂN ĐỒN- ĐI TỪ HƯỚNG CẦU MỚI- XUỐNG CẦU QUẸO TRÁI ĐẾN ĐẦU ĐÈN XANH ĐÈN ĐỎ, RẼ PHẢI LÀ ĐẾN. NẾU ĐI TỪ HƯỚNG CẦU CANMET CŨ – RẼ PHẢI ĐI THẲNG ĐẾN NGÃ TƯ THỨ HAI NHÌN BÊN PHÍA TAY TRÁI TRƯỜNG HỌC VÂN ĐỒN ĐỐI DIỆN LÀ CHÙA).

CHÂN THÀNH CẢM ƠN.
TN. THÁNH THÔNG

Kính chuyển đến sư cô Sáng Liên

Su co Sang Lien

Thông báo đến thành viên khoa Triết khóa 8

Hiện nay, Hòa thượng Nhất Quang đang bệnh. Hòa thượng là bổn sư của thầy Trung Hiếu – thành viên khoa Triết khóa 8
Do đó, lớp tổ chức đến thăm và đảnh lễ hòa thượng, đây cũng là sự thể hiện tình thân của khoa.
Vậy, huynh đệ nào đi được, đúng 9h ngày 26 – 7 – 2013 có mặt tại chùa Ấn Quang ( 243 đường sư Vạn Hạnh, quận 10).

TẬP ẢNH KHOA TRIẾT – KHÓA 8

Mô Phật

Kính thưa chư huynh đệ khoa Triết thân mến!

Tới thời điểm này, vượt qua mọi sự nỗ lực, nhờ vào tinh thần động viên, khích lệ hết mình của chư huynh đệ khoa Triết, tập ảnh KHOẢNG LẶNG của khoa đã chính thức thành hình. Thay mặt khoa Triết, An Tấn chân thành gởi lời tri ân sâu sắc đến chư huynh đệ gần xa – những người bạn đạo, những thân hữu thâm tình – đã đồng hành, trợ giúp và ủng hộ khoa Triết chúng ta hoàn thành những thiện sự ý nghĩa, mà gần nhất là công trình tập ảnh của khoa, để có thể sớm ra mắt người xem, và tận tay gởi đến chư huynh đệ trong ngày tốt nghiệp sắp tới.

Chư huynh đệ thân thương!

Như số tiền An Tấn thông báo trên lớp, rằng mỗi thành viên chỉ đóng phí 350.000 VND cho quà tặng ngày tốt nghiệp bao gồm: một tập ảnh đẹp 4 màu và một đĩa phim phóng sự DVD khoa Triết. Song, trên thực tế, số tiền in chỉ riêng tập ảnh của khoa đã lên tới 600.000 VND/ quyển, (chưa tính phí xuất bản, design và các khoản khác liên quan).Như vậy, in 150 quyển, tổng số tiền cụ thể là 72.000.000 VND. Đây quả là một số tiền quá lớn! (Chưa kể đến chi phí đĩa phim).

Nếu huynh đệ xem qua thông tin này, xin hãy hiểu cho, là chúng ta đang rất khó khăn trong vấn đề tài chính. Số tiền trên, với tự thân mỗi thành viên chúng ta, quả là ngoài sức tưởng tượng!Nhưng cũng với số tiền đó, để nối kết, hàn gắn mối thâm tình pháp lữ trong suốt bốn năm Học viện, và ngay cả sau này trên con đường đạo dài xa, đề có thể biết về nhau, nghĩ về nhau, và tương trợ cho nhau, thì có gì thắm thía! Thế nên, thay mặt lớp, An Tấn mong mỏi sẽ nhận được sự quan tâm, chia sẻ và ủng hộ nhiệt tình của chư huynh đệ, để có thể hoàn thành tốt hai ấn phẩm ý nghĩa này, kịp ngày tốt nghiệp gởi đến chư huynh đệ.

Mọi sự ủng hộ của chư huynh đệ, dù ít dù nhiều, An Tấn cũng đều rất trân trọng, nâng niu, và sử dụng vào đúng mục đích. Chỉ với một chút lòng thành từ chư huynh đệ, tin rằng những khó khăn tồn đọng này chắc chắn sẽ vượt qua. An Tấn ước mong chư huynh đệ chúng ta sẽ mãi sát cánh bên nhau trong việc tu tập, Phật sự cùng các thiện sự lợi lạc khác, tất cả vì một lý tưởng chung, một con đường đã chọn.

Mong rằng, đức Bồ-tát Quán Thế Âm sẽ thùy từ gia hộ và che chở chúng ta!

Mọi sự hỗ trợ, chia sẽ, đóng góp hoan hỷ liên lac qua số điện thoại 0937570449

Bằng tất cả chân tình

An Tấn

IMAG0311

 

Đây là bản kế toán của công ty in Fahasha, số tiền tập ảnh là 73 triệu, gởi lên đây các huynh đệ hiểu và chia sẽ như tâm thư An Tấn đã trình bày
107. Phan 3 - To 9 108. Phan 3 - To 9 106. Phan 3 - To 9 105. Phan 3 - To 9 104. Phan 3 - To 9 103. Phan 3 - To 9 102. Phan 3 - To 9 101. Phan 3 - To 9 100. Phan 3 - To 8 99. Phan 3 - To 8 98. Phan 3 - To 8 97. Phan 3 - To 8 96. Phan 3 - To 8 95. Phan 3 - To 8 94. Phan 3 - To 8 93. Phan 3 - To 8 92. Phan 3 - To 8 91. Phan 3 - To 7 90. Phan 3 - To 7 89. Phan 3 - To 7 88. Phan 3 - To 7 87. Phan 3 - To 7 86. Phan 3 - To 7 85. Phan 3 - To 7 84. Phan 3 - To 7 83. Phan 3 - To 7 82. Phan 3 - To 7 81. Phan 3 - To 6 80. Phan 3 - To 6 79. Phan 3 - To 6 78. Phan 3 - To 6 77. Phan 3 - To 6 76. Phan 3 - To 6 75. Phan 3 - To 6 74. Phan 3 - To 6 73. Phan 3 - To 6 72. Phan 3 - To 6 71. Phan 3 - To 6 70. Phan 3 - To 6 69. Phan 3 - To 5 68. Phan 3 - To 5 67. Phan 3 - To 5 66. Phan 3 - To 5 65. Phan 3 - To 5 64. Phan 3 - To 5 63. Phan 3 - To 5 62. Phan 3 - To 5 61. Phan 3 - To 5 60. Phan 3 - To 4 59. Phan 3 - To 4 58. Phan 3 - To 4 57. Phan 3 - To 4 56. Phan 3 - To 4 55. Phan 3 - To 4 54. Phan 3 - To 4 53. Phan 3 - To 4 52. Phan 3 - To 4 51. Phan 3 - To 4 50. Phan 3 - To 4 49. Phan 3 - To 4 48. Phan 3 - To 3 47. Phan 3 - To 3 46. Phan 3 - To 3 45. Phan 3 - To 3 44. Phan 3 - To 3 43. Phan 3 - To 3 42. Phan 3 - To 3 41. Phan 3 - To 3 40. Phan 3 - To 3 39. Phan 3 - To 2 38. Phan 3 - To 2 37. Phan 3 - To 2 36. Phan 3 - To 2 35. Phan 3 - To 2 34. Phan 3 - To 2 33. Phan 3 - To 2 32. Phan 3 - To 2 31. Phan 3 - To 2 30. Phan 3 - To 2 29. Phan 3 - To 1 28. Phan 3 - To 1 27. Phan 3 - To 1 26. Phan 3 - To 1 25. Phan 3 - To 1 24. Phan 3 - To 1 23. Phan 3 - To 1 22. Phan 3 - To 1 21. Phan 3 - To 1 20. Phan 3 - To 1

Đây là tập ảnh của cả khoa triết thân thương, thông tin và ôn lại kỷ niệm một thời học chung

Đây là tập ảnh của cả khoa triết thân thương, thông tin và ôn lại kỷ niệm một thời học chung

390616_658040190879759_1781470555_n IMG_2818 IMG_2686 IMG_1412 IMG_1194

thông báo đến những vị rớt môn kinh Lăng Nghiêm

Những huynh đệ có tên dưới đây là rớt môn kinh Lăng Nghiêm. Nên quý vị liên lạc với văn phòng gấp để thi hoặc làm lại tiểu luận

An khang: 29/10

Viên minh 15/27

Viên hanh 22/10

Duc hanh 14/38

Le phuoc 14/15

Quang xuan 26/10

Thanh dien 28/10

Phap dinh 19 /30

Tue thuan 20/20

Lưu ý, vị nào đưới 50 nhưng trên 45 điểm thì đăng ký văn phòng để xét duyệt

Soạn bài thi môn Đại thừa và Phật giáo Nguyên Thủy

 

  1. I.                  Nguyên nhân đưa đến sự ra đời của Phật giáo Nguyên thủy

Con người không ngừng phát triển và tiến bộ, từ cổ đại đến hôm nay đều như vậy. Đó cũng là sự thể hiện khát khao của con người, luôn đi tìm những điều hoàn mỹ. Và khi con người phát triển kéo theo xã hội, chính trị, tôn giáo, triết học, nhận thức v.v… đều phát triển. Căn cứ vào hiện tượng lịch sử của những vấn đề đó thì Phật giáo Nguyên thủy ra đời bởi những nguyên nhân căn bản sau:

a)                 Xã hội: xã hội Ấn Độ, một thời gian dài thần quyền đã lãnh đạo cầm quyền trong xã hội. Từ tư tưởng, đến chính trị … thần quyền chi phối quyền lực rất mạnh, tác động rất lớn sinh hoạt đời sống con người trong xã hội. Nhưng khi con người văn minh hơn, không muốn tất cả lệ thuộc vào thần quyền đã chuyển đổi cơ cấu tổ chức sã hội từ “ Thần quyền chuyển sang thế quyền”.

–                     Từ đó, tôn giáo, thần quyền, triết học đã bị thách đố trước những câu hỏi của con người.

–                     Nhân chủng: Nếu thuần chủng bản địa thì chưa chắc xã hội ấn độ đã xảy ra cuộc cách mạng về nhiều mặt. Nhưng khi giống người Aryans ( chủng người châu Âu) sang Ấn độ, bản địa hóa ấn độ. Con người trở nên văn minh, đòi hỏi một xã hội mới, tôn giáo mới…

–                     Và khi có người mới đến sinh hoạt, thì chắc chắn họ mang theo văn hóa, phong tục, tập quán, lễ nghi, ngôn ngữ …. Khi một văn hóa mới, xâm nhập vào một cứ địa mới thì tất cả se bị tác động qua lại để hòa nhập và phát triển. Từ đó họ có nhiều nhu cầu mới, đời sống mới, đặc biệt là tôn giáo.

Cho nên vào thời này, có nhiều tư tưởng, bà la môn ra đời được gọi là phi Bà la môn. Phi Bà la môn co 5 dòng triết học, trong đó có Phật giáo.

Phật giáo ra đời, như sự đáp ứng con người muốn tự làm chủ mình mà không bị lệ thuộc vào thần linh “ Chủ trương nghiệp do con người tạo, loại bỏ độc quyền của Brahma, phủ nhận quyền lực tuyệt đối của Veda, vai trò tối thượng đế”.

Phật giáo khẳng định con người là tối thượng chứ không phải Brahma.

b)                Kinh tế: thời kỳ đồ sắt (a) ứng dụng kỹ thuật canh tác mới vào lao động- (b) khai thác đất hoang: địa chủ+bất động sản ra đời- (c) Mậu dịch và tiểu thủ công nghiệp phát triển: hệ thống tiền tệ ra đời, (d) Thành thị hóa (trung tâm quyền lực của mỗi quốc gia ra đời): giới xã hội học, Max Webber, “Phật giáo là sản phẩm của nền văn hóa đô thị”- (tương tự, ở Pháp ra đời Phật giáo làng Mai).

c)                 Chính trị: Ở giai đoạn này, về chính trị, giới quý tộc đã nắm lấy quyền lực trong xã hội Bà la môn, nên xung đột tư tưởng xảy ra: Chính quyền và tôn giáo. TÂN PHONG TRÀO TỰ DO TƯ TƯỞNG RA ĐỜI. Giới trí thức và quý tộc nỗ lực trình bày sự vô lý và mỵ dân của hệ thống giáo sĩ Bà la môn. Bên cạnh ấy, những tông phái Duy vật, hoài nghi, hưởng lạc….nỗ lực phát huy tôn giáo của mình: Một lý tưởng sống mới ra đời. Và Phật giáo đã bác bỏ hoàn toàn những tư tưởng này của xã hội, đức Phật đưa ra học thuyết con người là chủ nhân của nghiệp, xa rời hai cực đoan khổ hạnh và hưởng thụ.

d)                Tôn giáo: Do sự bùng nổ của triết lý tự ngã (atma- self individual)  thay cho tư tưởng đại ngã (Brahma): Cuộc cách mạng tư tưởng, sản sanh hệ thống triết học nhân đạo và nhân văn. Khuynh hướng nhân bản: tự trách nhiệm thay định mệnh; đề cao vai trò đạo sư (guru) thay cho thần thánh (Gods); nhấn mạnh tu tập thực nghiệm thay chủ nghĩa nghi lễ hình thức . Nên có nhiều tư tưởng mới ra đời gọi là phi  bà la môn và Phật giáo nằm trong số đó.

  1. II.               Nguyên nhân ra đời của các bộ phái ( nhớ viết và bình luận – tự bình luận).

Theo giảng viên: Có 8 nguyên nhân căn bản sau:

Ngay thời kỳ đức phật đã xảy ra chia rẽ tăng đoàn: những yếu tố cơ bản:

  1. 1.                 Kosami: tranh cải pháp chia làm hai ( chưa phân biệt bộ vai)
  2. 2.                 devadatta: ( đề bà đạt đa yêu cầu trao quyền lãnh đạo tăng đoàn, đưa ra năm điều: y phấn táo, ngủ dưới gốc cây, không ăn thịt, phải đi khất thực, sống ở bãi tha ma)
  3. 3.                 bất đồng tròng kỳ kết tập kinh điển thứ nhất ( 3 tháng sau phật nhập niết bàn), ngài phú lâu na đề nghị thêm 8 điều nhưng đại hội không đồng ý
  4. 4.                 không có lãnh đạo tối cao => quyền lợi những nhóm nhỏ sinh khởi, tạo ra rạng nứt trong phật giáo
  5. 5.                 chuyên môn hóa các ngành văn điển Pali ( trong thời gian đầu, bố tát thời đức phật là  những bài kinh do đức phật dạy. khẩu truyền, đức phật giao cho từng nhóm tụng đọc những bài kinh khác nhau, từ đó trở thành chuyên môn hóa các ngành văn điển Pali.
  6. 6.                 bậc thầy danh tiếng: tôn sùng vị thầy lên trở thành trường phái
  7. 7.                 đề cao những khuynh hướng tu tập: trí tuệ, thiền định, giới luật, thờ xá lợi.
  8. 8.                 hiện tượng cát cứ lãnh địa do nguồn kinh tế

sau phật 100 – 110 kỳ kết tập kinh điển thứ hai với 10 điều phi pháp thuộc về giới luật , và 5 việc đại thiên thuộc về giáo lý

vada = học thuyết/ thera = thượng tọa; thượng tọa lúc đó 700 vị, đại chúng bộ 10 ngàn vị. thời kỳ này đóng góp tạng luận

  1. III.           Nguyên nhân đưa đến Phật giáo Đại thừa:
  2. 1.                 Sự chuyển biến trong giáo lý Phật giáo

Sau khi Phật giáo Bộ phái ra đời, xã hội có những chuyển biến tích cực, đòi hỏi các tôn giáo phải có sự chuyển biến để thích nghi với thời cuộc xã hội. Bên cạnh đó thì các tín ngưỡng đa thần cũng đã xuất hiện trở lại.

Khái niệm về quả Phật được khai triển và phân tích dưới sự ảnh hưởng học thuyết siêu hình của Hindu và Kỳ Na: Hệ quả: đức Phật trở thành bậc siêu nhân và siểu thế, và nguyên lý của vũ trụ mà không phải là một nhân cách bình thường (như PG nguyên thủy) và là đối tượng của tín ngưỡng, cầu nguyện. Phát triển rộng hơn, Phật giáo Đại thừa mở ra chuyện tiền thân của ngài dưới hình ảnh: Boddhisatva với hạnh nguyện từ bi, nhẫn nại, tri tuệ để cứu giúp chúng sanh.

  1. 2.                 Khủng bố của triều đại Sunga – cuộc phục hưng của đạo Hindu:

Sau sự suy thoái và sụp đổ của triều đại Mauyan cho đến cuối thế kỷ thứ hai trước công nguyên, triều đại Sunga thuộc họ Hindu bắt đầu trị vì Ấn Ðộ. Các nhà nghiên cứu cho rằng, trong thời gian (187-151 BC), Phật giáo đã phải trãi qua nhiều cuộc khủng bố vô cùng dã man. Vua Pusyamitra là kẻ thù dữ tợn nhất của Phật giáo. Ông ta tàn phá tháp miếu, hỏa thiêu nhiều tu viện từ Madhyadesa cho đến Jalandhar ở vùng Punjab, và đã giết nhiều Tỳ kheo trí thức. Với nguồn trợ của các vị vua thuộc triều đại Sunga, đạo Hindu (hậu thân của Bà La Môn) đã khởi xướng một chiến dịch phục hưng rầm rộ.

  1. 3.                  Ảnh hưởng từ nhiều truyền thống khác nhau

Sự xuất hiện của rất nhiều danh hiệu Phật giống các vị thần của tín ngưỡng này: Amitabha, Vairocara (Đại Nhật); Dipakara (Nhiên Đăng), Cùng với sự bùng phát của tín ngưỡng Rồng ở Kasmir…

4.  Phát triển trong nội bộ Phật giáo

a. Sự suy yếu của lý tưởng A La Hán với tính cách hạn chế của nó (vì chỉ dành cho Tăng)

b. Sức ép của hàng Phật tử tại gia (điển hình: cư sĩ Duy Ma Cật)

c.Nhu cầu truyền bá Phật giáo đến các bộ tộc: chủ nghĩa đa thần để phù hợp với văn hóa bản địa

d. Giai đoạn phát triển của Jataka (bổn sanh): Văn học Jataka và Avadana là quần chúng hóa Phật giáo (sau thời kỳ bộ phái)

IV. Giáo lý đặc thù của Phật giáo Nguyên thủy:

  1. 1.                 Vô ngã: Đây là giáo lý đặc thù Phật giáo nói chung và Phật giáo Nguyên thủy nói riêng. Giáo lý này đã phá bỏ học thuyết Đại ngã của bà la môn và phá bỏ thượng đế sai lầm của những tôn giáo khác.

Vô ngã trong Nguyên thủy là đứng trên hiện tượng để nói, căn cứ và học thuyết duyên khởi. Vô ngã trong hiện tượng là đứng về bản thể để nói. Nghĩa là vô ngã trong đại thừa là chỉ cho các pháp thật tánh của nó là vô ngã; trong nguyên thủy, do duyên giả hợp nên không có thật gọi là vô ngã.

  1. 2.                 Nhân duyên: với Phật giáo, tất cả các pháp do duyên sanh, không do một thượng đế nao tạo, và các pháp nó không có tự ngã độc lập. Trái ngược lại nhứng thuyết của các tôn giáo khác chủ trương: thần ý luận, định mệnh luận, ngẫu nhiên luận.
  2. 3.                 Tứ đế: đây là giáo lý căn bản của phật giáo để đi đến hạnh phúc, giáo lý này phá tan đi quan điểm thượng đế ban phạt, hay một đấng tạo hóa quyết định con người và học thuyết rất biện chứng khoa học.
  3. 4.                 Tính nhân bản: Đạo phật lấy con người làm trọng tâm, hạnh phúc hay đau khổ là ở mỗi con người, chân lý phật chỉ ra là để con người thực tập đạt được hạnh phúc.
  4. 5.                 Tinh thần thiết thực hiện tại: như người trúng tên độc, nhanh chóng nhổ tên độc, không hỏi tên độc từ đâu có, ai bắn; tùy bệnh cho thuốc qua ví dụ chiết thuyền, sang sông rồi bỏ chứ không vác theo; không hý luận, đến để mà thấy và tu tập, không lọt vào hý luận tập quán của người ấn độ.
  5. 6.                 Lấy pháp làm trung tâm: chân lý, trí tuệ soi sáng con đường hạnh phúc, không nương vào ai. Hãy tự thắp đuốc lên mà đi, nương tựa vào pháp không nương tụa vào bất cứ điều gì ( hải đảo tự thân).
    1. V.               Niết Bàn trong Nguyên thủy và Đại thừa:

Niết bàn: gọi là Niết Bàn vì Niết bàn là sự dứt bỏ, sự tách rời (ni) ra khỏi ái dục (vana), sự thèm khát ái dục”. Niết bàn là tham sân si diệt, khát ái diệt, vô minh diệt. Theo Phật giáo Nguyên thủy có 2 loại Niết bàn:

  1. a.                 Hữu dư y niết bàn: Sopadisesa nibbana: người đã đạt được cảnh giới giải thoát khỏi luân hồi, trừ diệt hết thảy phiền não, cắt đứt 10 kiết sử, thủ tiêu hoàn toàn tham sân si nhưng nhục thể vẫn còn tồn tại.
  2. b.                Vô dư y niết bàn  : anupadisesa nibbana: cảnh giới giải thoát hoàn toàn không còn nhục thể.
  3. c.                  Cái gì nhập niết bàn:

1. “Chỉ có sự khốn khổ, không có người khốn khổ- Cũng không có người hành động, không ai hết ngoại trừ hành động- Có Niết  bàn nhưng không có người tìm Niết bàn- Có con đường nhưng không có người đi trên con đường” Visushumagga.

2. Khi tất cả những bộ phận được ráp vào đúng chỗ của nó; danh từ cái xe phát sanh trong tâm ta; cũng thế ấy, thói quen thông thường, gọi là chúng sanh khi những uẩn cấu hợp lại; -3. Nếu có người dạy rằng Niết bàn là chấm dứt, Bạn hãy nói là người ấy nói dối- nếu có người dạy rằng Niết Bàn là còn sống; bạn hãy nói là người ấy lầm.” Niết Bàn vượt ngoài ngôn ngữ, tư tưởng, không thể thấu triệt được Niết bàn. Cách tốt nhất để hiểu Niết Bàn là gia công thành tựu trí tuệ bằng tuệ giác của mình. Niết bàn không thể hiểu bằng tri thức.

Niết bàn trong Nguyên thủy và Đại thừa

Cả hai đồng cho rằng niết bàn là sự chấm dứt khổ đau một cách tuyệt đối. Nhưng Đại thừa ngoài hai loại niế bàn còn có vô trụ xứ niết bàn, đây cũng từ tư tưởng độ sanh. Niết  bàn và sanh tử là một vì đại thừa phân tích trên bản thể.

  1. VI.           Những đặc thù tư tưởng Đại thừa

1. Đại Thừa Phật giáo lấy việc cứu độ chúng sanh làm lý tưởng tối cao của mình, vì ĐTPG cho rằng tất cả mọi chúng sanh đều có thể thành Phật, cho nên chủ trương người ta ai cũng có thể thành Phật…

2. ĐTPG thừa nhận chư Phật đồng thời tồn tại

a. Lập trường của Đại Thừa là lấy Phật làm lý tưởng và lấy sự trở về với tinh thần đức Phật làm mục tiêu. Nói theo ý nghĩa này, ta có thể thấy rằng Đại thừa đứng trên lập trường thâm sâu để khôi phục lại Phật giáo Nguyên Thủy.

b. Lý tưởng Bồ tát: thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh làm bản nguyện, và lấy tại gia làm điểm xuất phát, cho nên khác hẳn với Tiểu thừa PG, không theo chủ nghĩa ẩn dật, mà ở ngay trong thế gian hoạt động với đời, lấy việc cứu độ làm cơ sở. Nói cách khác, ĐTPG muốn hoàn thành một lúc cả hai nhiệm vụ xuất gia và tại gia: kết quả một quốc gia lý tưởng: Tịnh độ.

3.- Khác với Tiểu thừa PG, Đại thừa PG muốn trở về lập trường của Nguyên Thủy Phật giáo nên chủ trương hết thảy đều do tâm, nhưng ý nghĩa của tâm của Đại thừa có phần thâm thúy hơn Nguyên Thủy PG. Về phương diện bản thể luận, quy định trạng thái hoạt động của tâm một cách tinh thế là trung tâm của triết học đại Thừa. Tâm của Đại thừa có thể là kinh nghiệm, cũng có thể là vật: căn cứ vào đây ĐTPG thành lập thế giới quan: chân không diệu hữu: Chân không là kết luận của vọng tâm sinh diệt-; Diệu hữu là cảnh giới đã trừ diệt vọng tâm mà làm sáng tỏ ở thể tướng của tịnh tâm.

4.- Đại thừa về mặt căn bản là muốn thích nghi với thời đại mà có, nhưng đồng thời Đại Thừa cũng mang đặc tính thích ứng với tinh thần thời đại. PGNT thời đức Phật tỏ ra rất quan tâm đến thời đại, nhưng đến PGBP chỉ chuyên tâm vào việc tìm tòi tài liệu, không lưu ý đến tinh thần thời đại cho nên trở thành trở thành khô cứng. Theo một nghĩa nào đó, ĐTPG chống đối điều này, và vận động xướng lên một phong trào Đại thừa với mục đích để tiếp cận với tinh thần thời đại. Vì vậy, có thể nói, không hiểu được tinh thần văn hóa thời bấy giờ thì không thể hiểu được phong trào đại thừa một cách đúng đắn, bởi vì văn hóa đương thời và ĐTPG có những quan hệ mật thiết.

5. Đại thừa mang tính tích cực, Đại thừa do phong trào đại chúng; Đại thừa lấy cứu tế xã hội làm chuẩn đích, đại thừa chủ trương thông tục: Đại thừa nêu khẩu hiệu trở về với tinh thần Đức Phật,và trên thực tế kế thừa tinh thần Phật giáo nguyên thủy. Vì vậy, chúng ta có thể nói Đại Thừa gần với chân ý Phật hơn.

VII. Học thuyết Duy thức và sự liên hệ Nguyên thủy:

Theo truyền sử, Maitreya (Di-lặc), Asanga (Vô Trước) Vasubhandu (Thế Thân- AD-V) là những vị sáng lập tông này. Ba vị này được xem là người có công sưu tầm, đúc kết tư tưởng về tâm thức và phân biệt thành triết loại thứ tự mạch lạc và phương thức suy luận diễn đạt giáo lý nguyên thủy được rõ ràng hơn. Hộ Pháp (Dharmapala), Giới Hiền (Siladhadra) người Ấn, Huyền Trang, Khuy Cơ (Trung Quốc) là những vị có nhiều cống hiến cho Duy Thức Tông.

Duy thức học là môn học nằm trong luận tạng (Abhidharma= abhi: nới rộng, phát triển, mổ xẻ).

Duy thức học là môn học khảo sát về hiện tượng tâm lý và vật lý của nhân sinh vũ trụ. Duy thức học có thể xem là tâm lý học Đông phương so với tâm lý học Tây phương. Kinh luận thường có câu “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”- Tâm là đứng trên lãnh vực thể mà bàn; thức là đúng trên lãnh vực dụng là luận.

– Tâm: vô phân biệt tánh (thể)- thuộc phần chơn

– Thức: hữu phân biệt tánh (dụng) thuộc phần vọng.

Như thế, tam giới duy tâm tức nói bản thể chúng sanh vốn chật thật, tánh vô phân biệt- với ý nghĩa rằng các pháp trong tam giới trọn vẹn trong tâm, tâm vô phân biệt nên tất cả đều bình đẳng. Vạn pháp duy thức là chỉ cái tâm khi bị vô minh vọng động, hiện khởi tác dụng phân biệt thức; vì tâm thuộc tánh tịnh (thể), thức thuộc tánh động (dụng). Nhưng không thể nói tâm thức hoàn toàn khác nhau, vì thể không thể ly dụng, cũng như dụng không thể lý thể: Như sóng và nước: ngoài sóng không có nước, ngoài nước không có sóng. Nói khác đi tâm và thức là phi nhất phi nhị

Sự liên hệ duy thức trong Đại thừa và Nguyên thủy

Lưu ý: Duy thức học có rải rác trong kinh tạng nguyên thủy. Lấy pháp duyên khởi của Nguyên thủy mà hình thành.

Trên nền tảng giáo lý về tâm của Nguyên Thủy Phật giáo Duy thức tông hình thành. Các luận gia cho rằng pháp tướng duy thức tông có căn cứ trực tiếp trên sáu bộ kinh: 1. Hoa Nghiêm (avatamsaka), 2. Giải Thâm Mật (Samdhinirmocara), 3. Như Lai Xuất Hiện Công Đức Trang Nghiêm Kinh, 4. Kinh A Tỳ Đạt Ma (Abhidharma sutra), 5. Lăng Già (Lankavatara), 6. Kinh Mật Nghiêm; và mười một bộ luận: 1. Du Già Sư Địa Luận (Yagacaryabhumi sastra), 2. Hiển Dương Thánh Giáo Luận, 3. Đại Thừa Trang Nghiêm Luận (Mahayana-lankara sastra), 4.Tập Lượng Luận, 5. Nghĩa Đại Thừa Luận, 6. Thập Địa Kinh Luận (Dasabhumisutra-sastra), 7. Phân Biệt Du Già Luận, 8. Biện Trung Biên Luận (Madhyaita Vibhanga sastra), 9. Nhị Thập Duy Thức Luận (Vimsikavijnaptikariaka), 10. Quán Sở Duyên Duyên Luận (Alambanna pariksa sastra), 11. Tạp Tập Luận.

  1. VIII.    Giáo lý Bồ tát ( đặc trưng bồ tát trong Nguyên thủy và Đại thừa):

Diều cực kỳ quan trọng để lưu ý ở đây là khái niệm Bồ-tát được đề cập trong giáo lý của Phật giáo, cả Phật giáo Nam Truyền (Theravāda) và Phật giáo Bắc Truyền (Mahāyāna) chỉ là một danh từ chung, nhằm chỉ đến một chúng sanh (con người) đang đi trên con đường hướng đến giác ngộ, và không có bất cứ ý nghĩa bí mật hay đặc biệt nào ẩn tàng đằng sau nó. Những lời dạy sau đây của đức Thế Tôn hy vọng sẽ soi sáng lập luận vừa nêu một cách rõ ràng:

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sinh, sau khi biết rõ sự nguy hại của sinh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bịnh… cái không bệnh… tự mình bị chết… cái bất tử… tự mình bị sầu… cái không sầu… tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Thánh cầu”.

Bodhisatta. Sách bách khoa tôn giáo: trong Nguyên thủy và Đại thừa, khái niệm Bồ tát đều nhắm đến con người. Bồ tát trong Nguyên thủy, cũng là người đi tìm đạo, chưa có vế “ hạ hóa chúng” vế thứ hai này là phát triển Đại thừa. Bồ tát trong nguyên thủy khi nói đến Bồ tát là nói chính đức Phật. trong Nguyên thủy có thập ba la mật. tinh thần khích lệ và giáo dục của đức Phật làm con người hướng về bồ đề rất cao.

Bồ tát trong Nguyên thủy khát khao hướng đến giải thoát

Bồ tát trong Đại thừa, đức hạnh, pháp môn tu được hiện thực hóa để người ta hướng đến. nhân cách của đức phật được hiện thực hóa thành lý tưởng của bồ tát từng vị.

4 Giai đoạn phát triển giáo lý Bồ tát:

a) Giai đoạn Bồ tát trong kinh Trung bộ: Bồ tát ở đây là một con người.

b) Giai đoạn trong kinh Trường bộ: Bồ tát diễn tả đức Phật ở cõi trời đâu suất.lúc này Bồ tát đã được đẩy lên một bước ở cung trời.

c) Bồ tát trong kinh Bổn sanh: Bồ tát đã xuất hiện nhiều hình tượng khác nhau. ( 547 câu chuyện về cuộc đời của ngài tataka). Lúc này Bồ tát được quần chúng hóa, một bước ngoặc về tư tưởng vô cùng quan trọng. ( theo B.C Lau thì trật tự các kinh là Trung bộ, Trường bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ và Tiểu Bộ kinh).

d) Bồ tát trong Đại thừa: Về tâm lý, Nguyên thủy chỉ xoay vần một nhân vật thì không hấp dẫn, không thu hút. Thứ nữa là độc tôn tối cao. Tín ngưỡng đa thần được phục hưng nê có nhiều bồ tát ra đời. Nên nhân cách hóa của đức Phật để xây dựng hình ảnh bồ tát.

Lục độ hay thập độ: phương tiện vượt qua đến bờ bên kia, toàn thiện, cao cả. với đại thừa là đi đến bờ bên kia.

  1. IX.           Trình bày văn bản Phật giáo của Nguyên thủy, Bộ phái, Đại thừa
  2. 1.                 Văn bản Phật giáo của Nguyên thủy:

Văn điển Pali ( Phật giáo nguyên thủy)

  1. Nikaya ( kinh), riêng tiểu bộ kinh, có hơn phân nữa là do các bộ phại đưa vào sau phật nhập niết bàn 200 năm). Phần luật có ba bộ. (kinh pháp cú Nguyên thủy 423 bài kệ. pháp cú Đại thừa trên 500. Được rút ra từ những bài kệ các kinh trường bộ, trung bộ, và ra đời thời kỳ bộ phái).
  2. Vinaya ( luật)
  3. 2.                 Văn điển Pali bộ phái và văn điển Sanskrit bộ phái
  4. Nikaya: có 7 bộ Abhidhama, các vị Nam tông dịch là Vi diệu pháp/ Vô tỉ pháp. Nhưng trên nghiên cứu văn bản học thì đây là thời kỳ bộ phái, sớm nhất là thế kỷ thứ 3 sau Phật nhập diệt, và bộ luận đầu tiên là Bộ luận sự – Để loại bỏ kinh điển ngoại đạo ra khỏi kinh điển Phật giáo ( kết tập kinh điển lần thứ 3)
  5. Agma và Abhidharma ( A hàm và luận) các bộ A hàm và 7 bộ luận của Nhất Thiết Hữu bộ, 4 bộ A hàm kết tập sanskrit trong thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai). Bộ luận đầu tiên về sanskrit là bộ Phát trí luận, vào thời kaniska)
    1. 3.     Văn điển sanskrrit Đại thừa:

Bộ đầu tiên là bốn bộ a hàm, phương đẳng, sau đó là bát nhã, tất cả 9 bộ kinh đầu tiên của hệ tư tưởng đại thừa.

Prajnaparamita sutra ( bát nhã). Bộ cổ xưa nhất là bát thiên tụng bát nhã, biên soạn sớm nhất thứ nhất trước công nguyên, tư tưởng nền tảng đại thừa cho các kinh về sau. Bát nhã có gốc rễ từ tưởng kinh điển nguyên thủy. biên tập gần 1000 năm, chia làm 4 giai đoạn.

Bát thiên tụng bát nhã có nguồn gốc từ đại chúng bộ – giáo lý chủ yếu vô ngã. ( có thể làm vô ngã bát nhã và vô ngã nguyên thủy).

Giai đoạn ba tóm tắt bát nhã, tâm kinh bát nhã ra đời. kinh kim cang là phần rút gọn của bát nhã.

Giai đoạn 4 cả hệ thống bát nhã cô động lại thành chữ A. ( ô hay xuân đến bao giờ nhỉ; nghe tiếng hoa khai bỗng giật minh; sáng nay thức dậy choàng áo mới; vũ trụ muôn đời cũng mới tinh– đại lão hòa thượng mãn giác)

Bộ kinh thứ hai: saddhamapundarika = diệu pháp liên hoa kinh: ra đời vai trò chính trị xã hội. biên soạn thế kỷ thứ nhất sau tây lịch. Pháp hoa ra đời là đáp ứng nhu cầu thời đại ( tự tác luận, tha nhân luận, vô nhân luận).

 

 

TRỌNG TÂM NỘI DUNG KINH LĂNG GIÀ ( SINH VIÊN HIỂU BÀI ĐỂ TỰ LUẬN)

An Tấn soạn

Trọng tâm thứ nhất là bản thể luận

Để giải thích những câu trích dẫn mang tư tưởng kinh Lăng già nói riêng và đại thừa nói chung, quý thầy cô nắm rõ bản thể luận. Vì hầu hết, đại thừa nhận thức, tiếp cận, phân tích v.v… dựa trên bản thể luận để nhìn nhận và phân tích. Như vây câu hỏi đặc ra ở đây bản thể luận là gì?

Nắm rõ bản thể luận là phương pháp luận không bị lệ thuộc thời gian và không gian. Nhìn nhận sự vật hiện tượng theo thời gian vô tân, thời gian vô tận.

Ví dụ câu hỏi “ Tăng ni sinh hiểu như thế nào phiền não tức bồ đề”?

Trả lời: phiền não tức bồ đề bởi vì đứng trên hiện tượng thì thấy có tướng phiền não, có tướng bồ đề nhưng trên bản thể phiền não và bồ đề là một. Bởi vì, cùng một đối tượng nhưng không chánh kiến thì khởi sinh phiền não nhưng cũng đối tượng đó ta nhận chân ra được không bị nó chi phối thì bồ đề. Như vậy, bồ đề hay phiền não cũng chỉ một đối tượng. trong không gian cụ thể, thời gian cụ thể, đối tượng cụ thể thì có phiền não, có bồ đề, nhưng nhìn đúng bản thể không kẹt vào thời gian, không gian thì phiền não và bồ đề là một.

Những câu khác cũng giải thích tương tự dựa trên hệ quy chiếu bản thể luận của đại thừa để giải thích.

Trọng tâm thứ hai là khái niệm Như lai tang

Khái niệm Như lai tang ra đời trong thời kỳ thứ ba của đại thừa, theo dòng phát triển tư tưởng Phật học Ấn độ. Như lai tang là học thuyết dựa trên duy thức học để phát triển. ở giai đoạn duy thức, A lại da thức có phần nhiễm và tịnh, đến như lai tang là bỏ phần nhiễm của a lại da thức còn lại phần tịnh, phần tịnh đó chính là  Như lai tang,hay phật tánh hay bản lai diện mục của tư tưởng đại thừa và thiền trung hoa nói riêng.

Trọng tâm thứ ba cần nắm là dòng phát triển lịch sử tư tưởng phật học

Giai đoạn Phật giáo nguyên thủy => bộ phái => giai đoạn đầu của đại thừa => giai đoạn thứ hai của đại thừa => giai đoạn thứ ba của đại thừa.

ở mỗi giai đoạn, cần năm tư tưởng chủ đạo để hiểu và phân tích tư tưởng phật học.

giai đoạn phật giáo nguyên thủy không lý luận nhiều mà chủ yếu là pháp môn tu tập.

các bộ phái bàn luận đến uẩn, xứ giới, quan điểm về đức Phật, lộ trình quả vị tu chứng

giai đoạn đầu đại thừa  gồm tư tưởng bát nhã, tánh không, trung quán ( những tư tưởng này nhằm đã phá quan điểm tam thế thật hữu của nhất thiết hữu bộ.

giai đoạn thứ hai của đại thừa là duy thức: bàn về căn, ý thức, lộ trình tâm

giai đoạn thứ ba của đại thừa là tư tưởng Như lai tang.

  • Những căn bản này cần nắm rõ để phân tích tư tưởng kinh lăng già nói riêng và phật học đại thừa nói chung.

 

SOẠN BÀI ÔN THI MÔN TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

( lưu ý đề mở, nên sinh viên hiểu nội dung để làm bài không cần học thuộc)

TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

An Tấn soạn

Câu 1. Thế nào là triết học tôn giáo? Giải thích định nghĩa đó?

Thế nòa là triết học tôn giáo?

Trả lời: tính đến nay có rất nhiều định nghĩa về triết học tôn giáo, tùy  theo mục đích nghiên cứu mà có những định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên những định nghĩa đó có những điểm chung nhất căn bản. Để hiểu triết học tôn giáo là gì ta phải hiểu rõ hai khái niệm:

  1. Triết học: khoa học nghiên cứu về những quy luật chung nhất của thế giới và sự nhận thức thế giới. ( từ điển tiếng việt, trang 1327). Mục đích của triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận thức luận
  2. Tôn giáo: hệ thống những quan điểm tín ngưỡng một hay những vị thần linh nào đó và những hình thức lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy ( sđd, trang 1298).

Như vậy, triết học tôn giáo là ngành khoa học nghiên cứu về những quan điểm tín ngưỡng, tư tưởng, triết lý những vấn đề của các tôn giáo đó theo quy luật chung nhất của thế giới và nhận thức thế giới dưới ánh sáng triết học.

Giải thích định nghĩa đó? Mỗi người tự giải thích định nghĩa trên. Tuy nhiên chú ý đến các từ “ nghiên cứu về những quan điểm tín ngưỡng, tư tưởng, triết lý các tôn giáo, dưới ánh sáng triết học” để chứng minh tính logic, khoa học, mục đích và định hướng nhân loại ra sao.

Câu 2: thượng đế tồn tại được giải thích như thế nào?

Ngoài những người nương tựa tâm linh vào các tôn giáo xây dựng học thuyết thượng đế thì không phải ai cũng tin sự có mặt của thượng đế và khả năng toàn tri, toàn năng, toàn quyền của thượng đế. Đứng ở góc độ triết học thì căn cứ vào các hiện tượng tôn giáo giải thích về thượng đế qua bốn phương diện:

  1. Bản thể luận: theo Platon, sự siêu việt chi phối nhân loại đó chính là ý niệm. sự bế tắc trong lý luận giải thích hiện tượng thế giới, nhất là nguồn gốc con người và vũ trụ thì Platon quy kết cho rằng đó là ý  niệm, ý niệm của Platon là tồn tại tuyệt đối. Tương tự, thế giới đơn nhất của học thuyết Anselme, hay cái hoàn hảo của Descares cũng đi đến bế tắc là quy nạp về thượng đế trên phương diện bản thể của hiện tượng thế giới.
  2.  Vũ trụ luận: là luận chứng về nguyên nhân đầu tiên để thế giới hiện hữu. Và theo các tôn giáo nhất thần cũng như những nhà tư tưởng thần học, thì cho rằng nguyên nhân đầu tiên cũng như sự có mặt thế giới này do thượng đế sáng tạo. đặc biệt là nhà tư tưởng thần học Aquinas năm cách chứng minh cho quan điểm này như sau:

1        Biến hóa

Vũ trụ biến hóa phải có nguyên nhân đầu tiên tác động, nguyên nhân đầu tiên này chính là Thượng Đế.

2        Nhân quả

Sự hình thành của thế giới phải có nguyên nhân đầu tiên tác động vào các nguyên nhân kế tiếp, nguyên nhân đầu tiên đó chính là Thượng đế.

3        Ngẫu Nhiên

các sự vật hiện tượng tình cờ sinh ra không do nguyên nhân bên trong quyết định mà do nguyên nhân bên ngoài quyết định. Nguyên nhân bên ngoài chính là Thượng Đế.

4        Ưu việt

Những sự vật có tính tốt đẹp hoàn thiện, muốn tốt đẹp hoàn thiện phải có nguyên nhân, nguyên nhân này là Thượng đế.

5         Hòa hiệp

Tất cả các sự vật tự nhiên đều hoạt động theo xu hướng, mục đích, vì vậy phải có một đấng trí tuệ điều khiển. Đấng trí tuệ đó chính là Thượng Đế.

  1. c.       MỤC ĐÍCH THIẾT KẾ 

Các sự vật hiện tượng hay thiên nhiên được an bày một cách tốt đẹp và hoàn hảo, vì thế phải có người sắp đặt và thiết kế, người ấy chính là Chúa

  1. THẦN BÍ THỂ NGHIỆM: từ lý thuyết tiếp thu được kết hợp với sự trải nghiệm, qua thời gian họ nói họ đã thấy biết được chúa thông qua kinh nghiệm chính họ. điều này khó có thể chứng minh bằng khoa học, nên ta có thể ghi nhận dưới góc độ nghiên cứu triết học tôn giáo.

Câu 3: những đặc điểm ngôn ngữ tôn giáo

Ngôn ngữ là công cụ của tu duy, nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau và văn minh con người mới có cơ sở tồn tại và phát triển. mỗi lãnh vực xã hội ngôn ngữ có những đặc tính khác nhau để biểu đạt, đặc biệt là ngôn ngữ tôn giáo. Ngôn ngữ tôn giáo có 2 đặc tính căn bản, một là tự nhiên, hai là siêu nhiên.

Tự nhiên, có những điều tôn giáo đề cập đến mang tính con người và xã hội. những hiện tượng, những vấn đề mà con người có thể cảm nhận được. ví dụ như giáo điều cho các tín đồ, mô tả những cảnh tượng thiên nhiên v.v…

Siêu nhiên, có những vấn đề tôn giáo đề cập đến con người không thể cảm nhận qua nhãn quan bình thường mà phải bằng hệ thống lý luận tôn giáo và cần có sự trải nghiệm. ví dụ như thượng đế, giải thoát theo đạo phật v.v.

Ngoài ra, ngôn ngữ tôn giáo có những đặc tính khác : thứ nhất là dựa trên ngôn ngữ thế tục để phát triển ; thứ hai là phong phú hơn ngôn ngữ thế tục ; thứ ba là mang tính ẩn dụ cao ; thứ tư là khi diễn đạt điều gì cao siêu thường mang tính phủ định trần thuật.

Câu 4 : so sánh luân lý tôn giáo và luân lý thế tục ?

Luân lý tôn giáo và luân lý thế tục đều hàm chứa nội dung đạo đức, những quy tắc ứng xử, sự hướng thiện của con người. Tuy nhiên, xét về tính chất chúng có điểm tương đồng và dị biệt :

  1. Tương đồng : xét về tính thực tế thì do nhu cầu xã hội mà cả hai có mặt ; về nội dung, thì hàm chứa nội dung đạo đức, giúp con người sống thiện tính ; xét về xã hội thì cả hai là thiết chế công lý của xã hội ; và cả hai đều có sự tương tác cộng hưởng một cách logic.
  2. Dị biệt : Xét về tính hệ thống, phương pháp lý luận, và biện pháp cưởng chế thì luân lý tôn giáo hơn luân lý xã hội. Xét về diện rộng và đối tượng thì luân lý xã hội đa dạng hơn vì mỗi xã hội mỗi quan điểm về đạo đức, luân lý khác nhau và nhiều đối tượng tham gia hơn ; trong khi luân lý tôn giáo chỉ để áp dụng cho người theo tôn giáo. Xét về lịch sử thì luân lý tôn giáo dựa trên luân lý xã hội để phát triển và hệ thống, cũng như sáng tạo thêm để phù hợp với chủ trương tôn giáo của mình.

Câu 5 : trình bày giá trị niềm tin tôn giáo ?

Chấp nhận hay không chấp nhận thì tôn giáo vẫn hiện hữu từ khi con người mới có mặt cho đến thời đại văn minh chúng ta đang sống. Diều đó, nói lên tôn giáo là nhu cầu thiết yếu của một bộ phận nhân loại. Để bước vào tôn giáo đa phần là niềm tin đứng đầu. như vậy, giá trí của niềm tin tôn giáo như thế nào ?Đây là vấn đề đang còn tranh luận.

Như Pascal thì đưa ra nguyên lý đánh đố « nếu bạn nó đặt vào Thiên Chúa, thì bạn chẳng mất gì, ngay cả khi Thiên Chúa không hiện hữu. Nhưng nếu bạn đặt nó chống lại Thiên Chúa, và bạn sẽ mắc sai lầm nếu Thiên Chúa thực sự hiện hữu, khi đó bạn mất tất cả”. còn quan điểm của Fideism thì niềm tin tôn giáo có hai hữu thần luận và hoài nghi luận.

Đứng ở gốc độ học phật thì chúng thấy niềm tin mang những điểm giá trị sau:

Niềm tin là động lực để thúc đẩy một hành vi, như kinh hoa nghiêm nói “ niềm tin là mẹ đẻ các công đức”.

Niềm tin, là lộ trình tâm lý căn bản để đi đến một mục đích, “ tín => tấn => niệm => định => tuệ.

Niềm tin làm mãnh liệt hơn khi đã xác định làm một việc gì đó mà không bị các điều ngoại duyên chi phối.

Lấy từ những điểm này của phật giáo làm hệ quy chiếu cho niềm tin tôn giáo thì niềm tin tôn giáo có những giá trí tương đồng như phật giáo đã nêu. Tuy nhiên khác ở chỗ là niềm tin đạo phật mang tính trí tuệ còn một số tôn giáo khác thì lý tình hầu như không đề cập đến. cho nên niêm tin cũng có thể dẫn đến tác hại khi niềm tin đó đặc sai đối tượng. bởi vì giá trị của niềm tin là thúc đẩy và không bị ngoại duyên chi phối.

Câu 6: quý vị nghĩ gì về tương lai tôn giáo?

Không ai có thể khẳng định tương lai tôn giáo sau này như thế nào? Tuy nhiên căn cứ trên các cơ sở khoa học, nền tảng cuộc sống của con người ta có thể suy đoán. Như Einstein suy đoán “ tin giáo của tương lai sẽ là tôn giáo vũ trụ. Nó sẽ vượt lên trên ý tưởng của một thượng đế có bản ngã và tránh xa những giáo điều của thần học, có khả năng bao trùm cả tự niện lẫn tâm linh”

Còn theo Fewerbach thì tôn giáo đó phải là

  1. Chủ nghĩa nhân văn: lấy con người làm trọng tâm chứ không thể bán hết cho thượng đế.

Chủ nghĩa tự nhiên: nghĩa là phải đúng với quy luật tự nhiên và khoa học.

Nước có tác dụng rửa sạch thân thể, không có ý nghĩa  siêu tự nhiên trong việc tắm lễ; Bánh thánh và rượu không đáp tạ siêu tự nhiên mà lãng phí phẩm vật tự nhiên.

Căn cứ vào những quan điểm này thì bất cứ tôn giáo nào đi ngược với khoa học, xa rời tính nhân văn sẽ bị kết liễu khi con người văn minh. Ngược lại tôn giáo nào đáp ứng được những điều đã nêu tôn giáo đó sẽ tồn tại và tiếp tục định hướng nhân loại trong lĩnh vực tâm linh cũng như cuộc sống thường nhựt.

 

Thông báo khẩn về việc vớt điểm và lịch thi lại các môn từ học kỳ 1 – 8

1. vớt điểm

Từ học kỳ 1 đến học kỳ 8, sinh viên nào có 3 môn 45 điểm thi được vớt, không phải thi lại. Lưu ý là chỉ ba môn, nếu vượt trên ba môn thì phải thi lại tất cả các môn dưới 50 điểm. và nếu tổng số điểm thì hai cột điểm không cột nào rơi vào điểm liệt ( điểm liệt bài viết dưới 15).

2. Lịch thi và nội dung ôn thi được cập nhật tại trang học viện. địa chỉ http://www.vbu.edu.vn/

đề tiểu luận từ học kỳ 1 đến học kỳ 8 ( mới cập nhật)

ĐỀ TIỂU LUẬN THI LẠI TỪ HỌC KỲ 1 ĐẾN HỌC KỲ 8 – KHÓA 8 (21-05-2013)

 

 

 

 ĐỀ TIỂU LUẬN THI LẠI TỪ HỌC KỲ 1 ĐẾN HỌC KỲ 8 – KHÓA 8.

HỌC KỲ 1

Môn Giảng viên Đề tài tiểu luận Ghi chú
Khái luận Phật học TT. TS. T. Viên Trí Đặc điểm của giáo lý Nghiệp Phật Giáo  
Phương pháp nghiên  cứu TT.TS T. Nhật Từ Đề tự chọn  
Trết học Ấn độ

 

Trương Văn Chung Đề tự chọn

( giới hạn trong phạm vi Triết học Ấn độ thời Cổ đại)

 

 

HỌC KỲ 2

Môn Giảng viên Đề tài tiểu luận Ghi chú
Lịch sử Phật Giáo Ấn Độ TT.TS. T Viên Trí Giá trị xã hội của tổ chức Tăng đoàn Phật Giáo  
Luật học Phật Giáo

( lớp Ni)

       SC TS

TN Như Nguyệt

Tầm quan trọng của tám pháp Ba La Di đối với một vị Tỳ Kheo Ni

 

 
Lịch Sử Phật giáo Việt Nam TT.TS.T Phước Đạt Trình bày tử tưởng thiền học Phật giáo Đại Việt  

 

HỌC KỲ 3

Môn Giảng viên Đề tài tiểu luận Ghi chú
Lịch Sử Văn Học

Việt Nam

TT.TS.T. Phước Đạt Trình bày hình ảnh con người yêu nước thương dân trong văn học trung đại  

 

HỌC KỲ 5

Phân khoa Môn Giảng viên Đề tài tiểu  luận Ghi chú
PGVN VHPGVN

trước thế kỷ X

PGS.TS Nguyễn Công Lý Cuộc tranh luận về Phật pháp giữa Lý Miễu với Đạo Cao và Pháp Minh qua “Sáu bức thư”  
Khóa Hư Lục TT.TS

T. Phước Đạt

Phân tích hình ảnh con người trong tác phẩm “ Khóa hư lục” của Trần Thái Tông  
Triết học PG Câu Xá Luận       ĐĐ TS

T Giác Hiệp

Đề tự chọn  
Triết Học Chính Trị  Xã Hội Phật Giáo SC. TS

TN. Hương Nhũ

Từ những quan điểm triết học chính trị xã hội Phật Giáo, hãy chứng minh lời dạy của Đức Phật hướng đến một xã hội hạnh phúc trên cơ sở đạo đức, công bằng và dân chủ  
Hoằng Pháp Tư tưởng Kinh Nikaya và A hàm      TT Ths

T. Viên Giác

Vai trò hoằng pháp trong Kinh tạng Nguyên thủy  
PG và Trị Liệu Võ Khai Nghiệp Ứng dụng phương pháp tứ chuẩn trong y học cổ truyền vào cuộc sống tu tập và công tác hoằng pháp  
Triết Học Chính Trị  Xã Hội Phật Giáo SC. TS

TN. Hương Nhũ

Từ những quan điểm triết học chính trị xã hội Phật Giáo, hãy chứng minh lời dạy của Đức Phật hướng đến một xã hội hạnh phúc trên cơ sở đạo đức, công bằng và dân chủ.  

 

 

HỌC KỲ 6

Phân khoa Môn Giảng viên Đề tài tiểu  luận Ghi chú
Triết học PG Đại Thừa Khởi Tín Luận TT.TS.

T Lệ Thọ

1/ Đánh Thức Niềm Tin về Đại Thừa theo quan điểm của Ngài Mã Minh.

2/ Phát khởi lòng tin vào chính cái Tâm bình thường ở ngay nơi mình.

3/ Đức tin đại thừa là tin vào thể tướng dụng của Tâm.

4/ Tâm chúng sinh và tâm Như Lai vốn không khác nhau về mặt chân lý tuyệt đối.

5/ Bản chất đồng và dị của bất giác và giác ngộ.

6/ Đức Phật là bậc trí tuệ viên mãn, hạnh đức tròn đầy và sắc thân vô ngại.

7/ Đức Phật là vị khéo léo điều phục chúng sanh, và đưa đến an lạc cho đời này và đời sau.

8/ Quan điểm Ngài Mã Minh, bản chất và công dụng của giáo pháp như “đại dương” bao la, không ngằn mé.

9/ Pháp của Phật  là “ biển pháp tánh, chân như phi ngã”.

10/ Chủ nghĩa, học thuyết có thể bị thay thế nhưng lời Phật dạy không bao giờ bị sai lệch theo thời đại.

11/ Quan điểm Ngài Mã Minh: “Giáo pháp của Phật là chân lý muôn đời”.

12/ Đến với đạo Phật bằng con đường nhận thức thì niềm tin Tam Bảo mới chân chánh và bền bĩ.

13/ Đại Thừa Khởi Tín là nguồn năng lượng phát triển tâm linh.

14/ Tăng bảo phải hội đủ: “Diệu hạnh (supaṭipanno); Trực hạnh (ujupaṭipanno); Như lý hạnh (ñāyapaṭipanno) và Chánh hạnh (sāmīcipaṭipanno)”.

15/ Thể và Dụng của Ngài Mã Minh “tùy duyên sai biệt” mà vẫn “như như bất biến”.

 

 

 
Đạo Đức Học PG      ĐĐ TS.

T. Giác Hoàng

Trình bày quan điểm Đạo đức học Phật giáo qua một câu chuyện trong đời sống thường nhật hoặc trong điển tích văn học  
Nhận Thức Luận       TT TS

T.Giác Duyên

Trình bày Tam cảnh trong tướng phần của Duy thức

(gửi file đọc theo địa chỉ thichgiacduyen@viettel.vn)

 
Anh ngữ PP A study of Vinaya     TT.TS.

T Viên Trí

The role of sila in a Buddhist Monk

 

 
Hoằng pháp Đạo Đức Học PG     Đ Đ TS.

T. Giác Hoàng

Phân tích một trong những câu chuyện trong “ Gương sáng người xuất gia” để thể hiện quan điểm đạo đức Phật giáo của người viết  
Phật Học Ứng Dụng SC. TS
TN. Hương Nhũ
Từ sự ứng dụng thiết thực lời dạy của Đức Phật trong các mặt đa dạng của đời sống , hãy làm rõ quan điểm “Đạo Phật nhập thế”  
PGVN Tam Tổ Thực Lục      TT. TS

T. Phước Đạt

Trình bày tư tưởng thiền học của Phật hoàng Trần Nhân Tông  

 

 

 

 

 

 

HỌC KỲ 7

Phân khoa Môn Giảng viên Đề tài tiểu  luận Ghi chú
Triết học PG Kinh Lăng Già TT.TS.

T Hạnh Bình

Sự liên hệ giữa Kinh Lăng Già và Thiền học Trung Quốc  
Triết Học Tôn Giáo      TT TS

T.Giác Duyên

Trình bày Bản thể luận của từng tôn giáo

 

 
Phật Giáo Việt Nam VHPG thời Lê Nguyễn     PGS.TS Nguyễn Công Lý Từ “ Du già tập yếu mông sơn thí thực khoa nghi” đến “ Văn tế thập loại chúng sanh” của Nguyễn Du  
Văn Bia PG VN       TT.TS

T. Phước Đạt

Phân tích và chứng minh đặc trưng văn bia đời

Trần

 
Hoằng Pháp Phật giáo Nguyên thủy và Đại thừa    TT.TS.

T Viên Trí

Quan niệm về Niết bàn của Phật giáo Nguyên thủy và Phật gíao Đại thừa  
Triết Học Tôn Giáo TT TS

T.Giác Duyên

Trình bày Bản thể luận của từng tôn giáo

 

 

 

HỌC KỲ 8

Phân khoa Môn Giảng viên Đề tài tiểu  luận Ghi chú
PGVN Tuệ trung thượng sĩ ngữ lục TT.TS

T. Phước Đạt

Trình bày giá trị tư tưởng bài “sanh tử nhàn nhi nhĩ” của Tuệ Trung trong thượng sĩ hành trang  
Hoằng Pháp

 

Tư Tưởng PG VN TT.TS

T. Phước Đạt

Trình bày quan điểm Phật thể thời Phật giáo du nhập  
Triết học PG Tư Tưởng PG VN TT.TS

T. Phước Đạt

Trình bày quan điểm Phật thể thời Phật giáo du nhập  

 

IMG_1412

THÔNG BÁO

 THÔNG BÁO

ĐỀ TIỂU LUẬN THI LẠI TỪ HỌC KÌ 1 ĐẾN HỌC KỲ 8 KHÓA 8.
THỜI GIAN NỘP TIỂU LUẬN HẠN CHÓT LÀ NGÀY( 8-6- 2013 ) TÍNH TỪ NGÀY 13- 5- 2013 TRỞ ĐI. ĐẦU THÁNG 7 DL CÓ LỊCH THI BÀI VIẾT.
*HỌC KỲ I
MÔN _ KHÁI LUẬN PHẬT HỌC- GV – T. VIÊN TRÍ
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
ĐẶC ĐIỂM CỦA GIÁO LÝ NGHIỆP PHẬT GIÁO
*HỌC KỲ II
MÔN – LỊCH SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ- GV- T. VIÊN TRÍ
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA TỔ CHỨC TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO
MÔN- LUẬT HỌC PHẬT GIÁO (lớp Ni)- Sc. NHƯ NGUYỆT
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
TẦM QUAN TRỌNG CỦA TÁM PHÁP BA LA DI ĐỐI VỚI MỘT VỊ TỲ KHEO.
*HỌC KỲ V

PHÂN KHOA -TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
MÔN – LUẬN CÂU XÁ- GV. T. GIÁC HIỆP
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN: SINH VIÊN TỰ CHỌN.
*HỌC KỲ VI
PHÂN KHOA – TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
MÔN- ĐẠI THỪA KHỞI TÍN LUẬN- T. LỆ THỌ
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
SV chọn một trong các câu sau:
1. Đánh Thức Niềm Tin về Đại Thừa theo quan điểm của Ngài Mã Minh.
2. Phát khởi lòng tin vào chính cái Tâm bình thường ở ngay nơi mình.
3. Đức tin đại thừa là tin vào thể tướng dụng của Tâm.
4. Tâm chúng sinh và tâm Như Lai vốn không khác nhau về mặt chân lý tuyệt đối.
5. Bản chất đồng và dị của bất giác và giác ngộ.
6. Đức Phật là vị khéo léo điều phục chúng sanh, và đưa đến an lạc cho đời này và đời sau.
7. Đức Phật là vị khéo léo điều phục chúng sanh, và đưa đến an lạc cho đời này và đời sau.
8. Quan điểm Ngài Mã Minh, bản chất và công dụng của pháp như “ đại dương” bao la không ngằn mé.
9. Pháp của Phật là “ biển pháp tánh, chân như phi ngã”.
10. Chủ nghĩa học thuyết có thể bị thay thế nhưng lời Phật dạy không bao giờ bị sai lệch theo thời đại.
11. Quan điểm Ngài Mã Minh : “ Giáo pháp của Phật là chân lý muôn đời”.
12. Đến với đạo Phật bằng con đường nhận thức thì niềm tin Tam Bảo mới chân chánh và bền bĩ.
13. Đại Thừa Khởi Tín là nguồn năng lượng phát triển tâm linh.
14. Tăng bảo hội đủ: “ Diệu hạnh (supatipanno); Trực hạnh (ujupatipanno); Như lý hạnh ( nayapatipanno) và Chánh hạnh (samicipatipanno)”.
15. Thể và Dụng của Mã Minh “tùy duyên sai biệt” mà vẫn như như bất biến”.

MÔN- ĐẠO ĐỨC HỌC PG- SƯ. GIÁC HOÀNG
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
Trình bày quan điểm Đạo đức học Phật giáo qua một câu chuyện trong đời sống thường nhật hoặc trong điển tích văn học.
*HỌC KỲ VII
PHÂN KHOA – TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
MÔN –LĂNG GIÀ- T. HẠNH BÌNH
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
SỰ LIÊN HỆ GIỮA KINH LĂNG GIÀ VÀ THIỀN HỌC TRUNG QUỐC.
HỌC KỲ VIII

Chúng con sẽ cập nhật đề của học kỳ cuối sớm nhất.

ĐỀ VIẾT TIỂU LUẬN

(Dành cho Tăng Ni sinh khoa Triết học, Hoằng pháp và Đào tạo từ xa bị làm lại)

KHOA TRIẾT HỌC

Trình bày quan điểm Đạo đức học Phật giáo qua một câu chuyện trong đời sống thường nhật hoặc trong điển tích văn học.

 

KHOA HOẰNG PHÁP

Phân tích một trong những câu chuyện trong “Gương sáng người xuất gia” để thể hiện quan điểm đạo đức Phật giáo của người viết.

 

KHOA ĐÀO TẠO TỪ XA

Trình bày cách ứng dụng các nguyên tắc Đạo đức Phật giáo trong tu tập hoặc trong công tác xã hội.

 

Đề thi tại lớp: Tất cả 3 khoa đều học hết 81 câu hỏi đã ôn cho sinh viên khoa Đào tạo từ xa. Đã đưa lên mạng Học viện.

 

Thời gian nộp bài tiểu luận trễ nhất là 19/5/2013 

Soạn ôn thi Đại Thừa và Nguyên Thủy ( An Tấn Soạn)

 

  1. I.                  Nguyên nhân đưa đến sự ra đời của Phật giáo Nguyên thủy

Con người không ngừng phát triển và tiến bộ, từ cổ đại đến hôm nay đều như vậy. Đó cũng là sự thể hiện khát khao của con người, luôn đi tìm những điều hoàn mỹ. Và khi con người phát triển kéo theo xã hội, chính trị, tôn giáo, triết học, nhận thức v.v… đều phát triển. Căn cứ vào hiện tượng lịch sử của những vấn đề đó thì Phật giáo Nguyên thủy ra đời bởi những nguyên nhân căn bản sau:

a)                 Xã hội: xã hội Ấn Độ, một thời gian dài thần quyền đã lãnh đạo cầm quyền trong xã hội. Từ tư tưởng, đến chính trị … thần quyền chi phối quyền lực rất mạnh, tác động rất lớn sinh hoạt đời sống con người trong xã hội. Nhưng khi con người văn minh hơn, không muốn tất cả lệ thuộc vào thần quyền đã chuyển đổi cơ cấu tổ chức sã hội từ “ Thần quyền chuyển sang thế quyền”.

–                     Từ đó, tôn giáo, thần quyền, triết học đã bị thách đố trước những câu hỏi của con người.

–                     Nhân chủng: Nếu thuần chủng bản địa thì chưa chắc xã hội ấn độ đã xảy ra cuộc cách mạng về nhiều mặt. Nhưng khi giống người Aryans ( chủng người châu Âu) sang Ấn độ, bản địa hóa ấn độ. Con người trở nên văn minh, đòi hỏi một xã hội mới, tôn giáo mới…

–                     Và khi có người mới đến sinh hoạt, thì chắc chắn họ mang theo văn hóa, phong tục, tập quán, lễ nghi, ngôn ngữ …. Khi một văn hóa mới, xâm nhập vào một cứ địa mới thì tất cả se bị tác động qua lại để hòa nhập và phát triển. Từ đó họ có nhiều nhu cầu mới, đời sống mới, đặc biệt là tôn giáo.

Cho nên vào thời này, có nhiều tư tưởng, bà la môn ra đời được gọi là phi Bà la môn. Phi Bà la môn co 5 dòng triết học, trong đó có Phật giáo.

Phật giáo ra đời, như sự đáp ứng con người muốn tự làm chủ mình mà không bị lệ thuộc vào thần linh “ Chủ trương nghiệp do con người tạo, loại bỏ độc quyền của Brahma, phủ nhận quyền lực tuyệt đối của Veda, vai trò tối thượng đế”.

Phật giáo khẳng định con người là tối thượng chứ không phải Brahma.

b)                Kinh tế: thời kỳ đồ sắt (a) ứng dụng kỹ thuật canh tác mới vào lao động- (b) khai thác đất hoang: địa chủ+bất động sản ra đời- (c) Mậu dịch và tiểu thủ công nghiệp phát triển: hệ thống tiền tệ ra đời, (d) Thành thị hóa (trung tâm quyền lực của mỗi quốc gia ra đời): giới xã hội học, Max Webber, “Phật giáo là sản phẩm của nền văn hóa đô thị”- (tương tự, ở Pháp ra đời Phật giáo làng Mai).

c)                 Chính trị: Ở giai đoạn này, về chính trị, giới quý tộc đã nắm lấy quyền lực trong xã hội Bà la môn, nên xung đột tư tưởng xảy ra: Chính quyền và tôn giáo. TÂN PHONG TRÀO TỰ DO TƯ TƯỞNG RA ĐỜI. Giới trí thức và quý tộc nỗ lực trình bày sự vô lý và mỵ dân của hệ thống giáo sĩ Bà la môn. Bên cạnh ấy, những tông phái Duy vật, hoài nghi, hưởng lạc….nỗ lực phát huy tôn giáo của mình: Một lý tưởng sống mới ra đời. Và Phật giáo đã bác bỏ hoàn toàn những tư tưởng này của xã hội, đức Phật đưa ra học thuyết con người là chủ nhân của nghiệp, xa rời hai cực đoan khổ hạnh và hưởng thụ.

d)                Tôn giáo: Do sự bùng nổ của triết lý tự ngã (atma- self individual)  thay cho tư tưởng đại ngã (Brahma): Cuộc cách mạng tư tưởng, sản sanh hệ thống triết học nhân đạo và nhân văn. Khuynh hướng nhân bản: tự trách nhiệm thay định mệnh; đề cao vai trò đạo sư (guru) thay cho thần thánh (Gods); nhấn mạnh tu tập thực nghiệm thay chủ nghĩa nghi lễ hình thức . Nên có nhiều tư tưởng mới ra đời gọi là phi  bà la môn và Phật giáo nằm trong số đó.

  1. II.               Nguyên nhân ra đời của các bộ phái ( nhớ viết và bình luận – tự bình luận).

Theo giảng viên: Có 8 nguyên nhân căn bản sau:

Ngay thời kỳ đức phật đã xảy ra chia rẽ tăng đoàn: những yếu tố cơ bản:

  1. 1.                 Kosami: tranh cải pháp chia làm hai ( chưa phân biệt bộ vai)
  2. 2.                 devadatta: ( đề bà đạt đa yêu cầu trao quyền lãnh đạo tăng đoàn, đưa ra năm điều: y phấn táo, ngủ dưới gốc cây, không ăn thịt, phải đi khất thực, sống ở bãi tha ma)
  3. 3.                 bất đồng tròng kỳ kết tập kinh điển thứ nhất ( 3 tháng sau phật nhập niết bàn), ngài phú lâu na đề nghị thêm 8 điều nhưng đại hội không đồng ý
  4. 4.                 không có lãnh đạo tối cao => quyền lợi những nhóm nhỏ sinh khởi, tạo ra rạng nứt trong phật giáo
  5. 5.                 chuyên môn hóa các ngành văn điển Pali ( trong thời gian đầu, bố tát thời đức phật là  những bài kinh do đức phật dạy. khẩu truyền, đức phật giao cho từng nhóm tụng đọc những bài kinh khác nhau, từ đó trở thành chuyên môn hóa các ngành văn điển Pali.
  6. 6.                 bậc thầy danh tiếng: tôn sùng vị thầy lên trở thành trường phái
  7. 7.                 đề cao những khuynh hướng tu tập: trí tuệ, thiền định, giới luật, thờ xá lợi.
  8. 8.                 hiện tượng cát cứ lãnh địa do nguồn kinh tế

sau phật 100 – 110 kỳ kết tập kinh điển thứ hai với 10 điều phi pháp thuộc về giới luật , và 5 việc đại thiên thuộc về giáo lý

vada = học thuyết/ thera = thượng tọa; thượng tọa lúc đó 700 vị, đại chúng bộ 10 ngàn vị. thời kỳ này đóng góp tạng luận

  1. III.           Nguyên nhân đưa đến Phật giáo Đại thừa:
  2. 1.                 Sự chuyển biến trong giáo lý Phật giáo

Sau khi Phật giáo Bộ phái ra đời, xã hội có những chuyển biến tích cực, đòi hỏi các tôn giáo phải có sự chuyển biến để thích nghi với thời cuộc xã hội. Bên cạnh đó thì các tín ngưỡng đa thần cũng đã xuất hiện trở lại.

Khái niệm về quả Phật được khai triển và phân tích dưới sự ảnh hưởng học thuyết siêu hình của Hindu và Kỳ Na: Hệ quả: đức Phật trở thành bậc siêu nhân và siểu thế, và nguyên lý của vũ trụ mà không phải là một nhân cách bình thường (như PG nguyên thủy) và là đối tượng của tín ngưỡng, cầu nguyện. Phát triển rộng hơn, Phật giáo Đại thừa mở ra chuyện tiền thân của ngài dưới hình ảnh: Boddhisatva với hạnh nguyện từ bi, nhẫn nại, tri tuệ để cứu giúp chúng sanh.

  1. 2.                 Khủng bố của triều đại Sunga – cuộc phục hưng của đạo Hindu:

Sau sự suy thoái và sụp đổ của triều đại Mauyan cho đến cuối thế kỷ thứ hai trước công nguyên, triều đại Sunga thuộc họ Hindu bắt đầu trị vì Ấn Ðộ. Các nhà nghiên cứu cho rằng, trong thời gian (187-151 BC), Phật giáo đã phải trãi qua nhiều cuộc khủng bố vô cùng dã man. Vua Pusyamitra là kẻ thù dữ tợn nhất của Phật giáo. Ông ta tàn phá tháp miếu, hỏa thiêu nhiều tu viện từ Madhyadesa cho đến Jalandhar ở vùng Punjab, và đã giết nhiều Tỳ kheo trí thức. Với nguồn trợ của các vị vua thuộc triều đại Sunga, đạo Hindu (hậu thân của Bà La Môn) đã khởi xướng một chiến dịch phục hưng rầm rộ.

  1. 3.                  Ảnh hưởng từ nhiều truyền thống khác nhau

Sự xuất hiện của rất nhiều danh hiệu Phật giống các vị thần của tín ngưỡng này: Amitabha, Vairocara (Đại Nhật); Dipakara (Nhiên Đăng), Cùng với sự bùng phát của tín ngưỡng Rồng ở Kasmir…

4.  Phát triển trong nội bộ Phật giáo

a. Sự suy yếu của lý tưởng A La Hán với tính cách hạn chế của nó (vì chỉ dành cho Tăng)

b. Sức ép của hàng Phật tử tại gia (điển hình: cư sĩ Duy Ma Cật)

c.Nhu cầu truyền bá Phật giáo đến các bộ tộc: chủ nghĩa đa thần để phù hợp với văn hóa bản địa

d. Giai đoạn phát triển của Jataka (bổn sanh): Văn học Jataka và Avadana là quần chúng hóa Phật giáo (sau thời kỳ bộ phái)

IV. Giáo lý đặc thù của Phật giáo Nguyên thủy:

  1. 1.                 Vô ngã: Đây là giáo lý đặc thù Phật giáo nói chung và Phật giáo Nguyên thủy nói riêng. Giáo lý này đã phá bỏ học thuyết Đại ngã của bà la môn và phá bỏ thượng đế sai lầm của những tôn giáo khác.

Vô ngã trong Nguyên thủy là đứng trên hiện tượng để nói, căn cứ và học thuyết duyên khởi. Vô ngã trong hiện tượng là đứng về bản thể để nói. Nghĩa là vô ngã trong đại thừa là chỉ cho các pháp thật tánh của nó là vô ngã; trong nguyên thủy, do duyên giả hợp nên không có thật gọi là vô ngã.

  1. 2.                 Nhân duyên: với Phật giáo, tất cả các pháp do duyên sanh, không do một thượng đế nao tạo, và các pháp nó không có tự ngã độc lập. Trái ngược lại nhứng thuyết của các tôn giáo khác chủ trương: thần ý luận, định mệnh luận, ngẫu nhiên luận.
  2. 3.                 Tứ đế: đây là giáo lý căn bản của phật giáo để đi đến hạnh phúc, giáo lý này phá tan đi quan điểm thượng đế ban phạt, hay một đấng tạo hóa quyết định con người và học thuyết rất biện chứng khoa học.
  3. 4.                 Tính nhân bản: Đạo phật lấy con người làm trọng tâm, hạnh phúc hay đau khổ là ở mỗi con người, chân lý phật chỉ ra là để con người thực tập đạt được hạnh phúc.
  4. 5.                 Tinh thần thiết thực hiện tại: như người trúng tên độc, nhanh chóng nhổ tên độc, không hỏi tên độc từ đâu có, ai bắn; tùy bệnh cho thuốc qua ví dụ chiết thuyền, sang sông rồi bỏ chứ không vác theo; không hý luận, đến để mà thấy và tu tập, không lọt vào hý luận tập quán của người ấn độ.
  5. 6.                 Lấy pháp làm trung tâm: chân lý, trí tuệ soi sáng con đường hạnh phúc, không nương vào ai. Hãy tự thắp đuốc lên mà đi, nương tựa vào pháp không nương tụa vào bất cứ điều gì ( hải đảo tự thân).
    1. V.               Niết Bàn trong Nguyên thủy và Đại thừa:

Niết bàn: gọi là Niết Bàn vì Niết bàn là sự dứt bỏ, sự tách rời (ni) ra khỏi ái dục (vana), sự thèm khát ái dục”. Niết bàn là tham sân si diệt, khát ái diệt, vô minh diệt. Theo Phật giáo Nguyên thủy có 2 loại Niết bàn:

  1. a.                 Hữu dư y niết bàn: Sopadisesa nibbana: người đã đạt được cảnh giới giải thoát khỏi luân hồi, trừ diệt hết thảy phiền não, cắt đứt 10 kiết sử, thủ tiêu hoàn toàn tham sân si nhưng nhục thể vẫn còn tồn tại.
  2. b.                Vô dư y niết bàn  : anupadisesa nibbana: cảnh giới giải thoát hoàn toàn không còn nhục thể.
  3. c.                  Cái gì nhập niết bàn:

1. “Chỉ có sự khốn khổ, không có người khốn khổ- Cũng không có người hành động, không ai hết ngoại trừ hành động- Có Niết  bàn nhưng không có người tìm Niết bàn- Có con đường nhưng không có người đi trên con đường” Visushumagga.

2. Khi tất cả những bộ phận được ráp vào đúng chỗ của nó; danh từ cái xe phát sanh trong tâm ta; cũng thế ấy, thói quen thông thường, gọi là chúng sanh khi những uẩn cấu hợp lại; -3. Nếu có người dạy rằng Niết bàn là chấm dứt, Bạn hãy nói là người ấy nói dối- nếu có người dạy rằng Niết Bàn là còn sống; bạn hãy nói là người ấy lầm.” Niết Bàn vượt ngoài ngôn ngữ, tư tưởng, không thể thấu triệt được Niết bàn. Cách tốt nhất để hiểu Niết Bàn là gia công thành tựu trí tuệ bằng tuệ giác của mình. Niết bàn không thể hiểu bằng tri thức.

Niết bàn trong Nguyên thủy và Đại thừa

Cả hai đồng cho rằng niết bàn là sự chấm dứt khổ đau một cách tuyệt đối. Nhưng Đại thừa ngoài hai loại niế bàn còn có vô trụ xứ niết bàn, đây cũng từ tư tưởng độ sanh. Niết  bàn và sanh tử là một vì đại thừa phân tích trên bản thể.

  1. VI.           Những đặc thù tư tưởng Đại thừa

1. Đại Thừa Phật giáo lấy việc cứu độ chúng sanh làm lý tưởng tối cao của mình, vì ĐTPG cho rằng tất cả mọi chúng sanh đều có thể thành Phật, cho nên chủ trương người ta ai cũng có thể thành Phật…

2. ĐTPG thừa nhận chư Phật đồng thời tồn tại

a. Lập trường của Đại Thừa là lấy Phật làm lý tưởng và lấy sự trở về với tinh thần đức Phật làm mục tiêu. Nói theo ý nghĩa này, ta có thể thấy rằng Đại thừa đứng trên lập trường thâm sâu để khôi phục lại Phật giáo Nguyên Thủy.

b. Lý tưởng Bồ tát: thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh làm bản nguyện, và lấy tại gia làm điểm xuất phát, cho nên khác hẳn với Tiểu thừa PG, không theo chủ nghĩa ẩn dật, mà ở ngay trong thế gian hoạt động với đời, lấy việc cứu độ làm cơ sở. Nói cách khác, ĐTPG muốn hoàn thành một lúc cả hai nhiệm vụ xuất gia và tại gia: kết quả một quốc gia lý tưởng: Tịnh độ.

3.- Khác với Tiểu thừa PG, Đại thừa PG muốn trở về lập trường của Nguyên Thủy Phật giáo nên chủ trương hết thảy đều do tâm, nhưng ý nghĩa của tâm của Đại thừa có phần thâm thúy hơn Nguyên Thủy PG. Về phương diện bản thể luận, quy định trạng thái hoạt động của tâm một cách tinh thế là trung tâm của triết học đại Thừa. Tâm của Đại thừa có thể là kinh nghiệm, cũng có thể là vật: căn cứ vào đây ĐTPG thành lập thế giới quan: chân không diệu hữu: Chân không là kết luận của vọng tâm sinh diệt-; Diệu hữu là cảnh giới đã trừ diệt vọng tâm mà làm sáng tỏ ở thể tướng của tịnh tâm.

4.- Đại thừa về mặt căn bản là muốn thích nghi với thời đại mà có, nhưng đồng thời Đại Thừa cũng mang đặc tính thích ứng với tinh thần thời đại. PGNT thời đức Phật tỏ ra rất quan tâm đến thời đại, nhưng đến PGBP chỉ chuyên tâm vào việc tìm tòi tài liệu, không lưu ý đến tinh thần thời đại cho nên trở thành trở thành khô cứng. Theo một nghĩa nào đó, ĐTPG chống đối điều này, và vận động xướng lên một phong trào Đại thừa với mục đích để tiếp cận với tinh thần thời đại. Vì vậy, có thể nói, không hiểu được tinh thần văn hóa thời bấy giờ thì không thể hiểu được phong trào đại thừa một cách đúng đắn, bởi vì văn hóa đương thời và ĐTPG có những quan hệ mật thiết.

5. Đại thừa mang tính tích cực, Đại thừa do phong trào đại chúng; Đại thừa lấy cứu tế xã hội làm chuẩn đích, đại thừa chủ trương thông tục: Đại thừa nêu khẩu hiệu trở về với tinh thần Đức Phật,và trên thực tế kế thừa tinh thần Phật giáo nguyên thủy. Vì vậy, chúng ta có thể nói Đại Thừa gần với chân ý Phật hơn.

VII. Học thuyết Duy thức và sự liên hệ Nguyên thủy:

Theo truyền sử, Maitreya (Di-lặc), Asanga (Vô Trước) Vasubhandu (Thế Thân- AD-V) là những vị sáng lập tông này. Ba vị này được xem là người có công sưu tầm, đúc kết tư tưởng về tâm thức và phân biệt thành triết loại thứ tự mạch lạc và phương thức suy luận diễn đạt giáo lý nguyên thủy được rõ ràng hơn. Hộ Pháp (Dharmapala), Giới Hiền (Siladhadra) người Ấn, Huyền Trang, Khuy Cơ (Trung Quốc) là những vị có nhiều cống hiến cho Duy Thức Tông.

Duy thức học là môn học nằm trong luận tạng (Abhidharma= abhi: nới rộng, phát triển, mổ xẻ).

Duy thức học là môn học khảo sát về hiện tượng tâm lý và vật lý của nhân sinh vũ trụ. Duy thức học có thể xem là tâm lý học Đông phương so với tâm lý học Tây phương. Kinh luận thường có câu “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”- Tâm là đứng trên lãnh vực thể mà bàn; thức là đúng trên lãnh vực dụng là luận.

– Tâm: vô phân biệt tánh (thể)- thuộc phần chơn

– Thức: hữu phân biệt tánh (dụng) thuộc phần vọng.

Như thế, tam giới duy tâm tức nói bản thể chúng sanh vốn chật thật, tánh vô phân biệt- với ý nghĩa rằng các pháp trong tam giới trọn vẹn trong tâm, tâm vô phân biệt nên tất cả đều bình đẳng. Vạn pháp duy thức là chỉ cái tâm khi bị vô minh vọng động, hiện khởi tác dụng phân biệt thức; vì tâm thuộc tánh tịnh (thể), thức thuộc tánh động (dụng). Nhưng không thể nói tâm thức hoàn toàn khác nhau, vì thể không thể ly dụng, cũng như dụng không thể lý thể: Như sóng và nước: ngoài sóng không có nước, ngoài nước không có sóng. Nói khác đi tâm và thức là phi nhất phi nhị

Sự liên hệ duy thức trong Đại thừa và Nguyên thủy

Lưu ý: Duy thức học có rải rác trong kinh tạng nguyên thủy. Lấy pháp duyên khởi của Nguyên thủy mà hình thành.

Trên nền tảng giáo lý về tâm của Nguyên Thủy Phật giáo Duy thức tông hình thành. Các luận gia cho rằng pháp tướng duy thức tông có căn cứ trực tiếp trên sáu bộ kinh: 1. Hoa Nghiêm (avatamsaka), 2. Giải Thâm Mật (Samdhinirmocara), 3. Như Lai Xuất Hiện Công Đức Trang Nghiêm Kinh, 4. Kinh A Tỳ Đạt Ma (Abhidharma sutra), 5. Lăng Già (Lankavatara), 6. Kinh Mật Nghiêm; và mười một bộ luận: 1. Du Già Sư Địa Luận (Yagacaryabhumi sastra), 2. Hiển Dương Thánh Giáo Luận, 3. Đại Thừa Trang Nghiêm Luận (Mahayana-lankara sastra), 4.Tập Lượng Luận, 5. Nghĩa Đại Thừa Luận, 6. Thập Địa Kinh Luận (Dasabhumisutra-sastra), 7. Phân Biệt Du Già Luận, 8. Biện Trung Biên Luận (Madhyaita Vibhanga sastra), 9. Nhị Thập Duy Thức Luận (Vimsikavijnaptikariaka), 10. Quán Sở Duyên Duyên Luận (Alambanna pariksa sastra), 11. Tạp Tập Luận.

  1. VIII.    Giáo lý Bồ tát ( đặc trưng bồ tát trong Nguyên thủy và Đại thừa):

Diều cực kỳ quan trọng để lưu ý ở đây là khái niệm Bồ-tát được đề cập trong giáo lý của Phật giáo, cả Phật giáo Nam Truyền (Theravāda) và Phật giáo Bắc Truyền (Mahāyāna) chỉ là một danh từ chung, nhằm chỉ đến một chúng sanh (con người) đang đi trên con đường hướng đến giác ngộ, và không có bất cứ ý nghĩa bí mật hay đặc biệt nào ẩn tàng đằng sau nó. Những lời dạy sau đây của đức Thế Tôn hy vọng sẽ soi sáng lập luận vừa nêu một cách rõ ràng:

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sinh, sau khi biết rõ sự nguy hại của sinh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bịnh… cái không bệnh… tự mình bị chết… cái bất tử… tự mình bị sầu… cái không sầu… tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là Thánh cầu”.

Bodhisatta. Sách bách khoa tôn giáo: trong Nguyên thủy và Đại thừa, khái niệm Bồ tát đều nhắm đến con người. Bồ tát trong Nguyên thủy, cũng là người đi tìm đạo, chưa có vế “ hạ hóa chúng” vế thứ hai này là phát triển Đại thừa. Bồ tát trong nguyên thủy khi nói đến Bồ tát là nói chính đức Phật. trong Nguyên thủy có thập ba la mật. tinh thần khích lệ và giáo dục của đức Phật làm con người hướng về bồ đề rất cao.

Bồ tát trong Nguyên thủy khát khao hướng đến giải thoát

Bồ tát trong Đại thừa, đức hạnh, pháp môn tu được hiện thực hóa để người ta hướng đến. nhân cách của đức phật được hiện thực hóa thành lý tưởng của bồ tát từng vị.

4 Giai đoạn phát triển giáo lý Bồ tát:

a) Giai đoạn Bồ tát trong kinh Trung bộ: Bồ tát ở đây là một con người.

b) Giai đoạn trong kinh Trường bộ: Bồ tát diễn tả đức Phật ở cõi trời đâu suất.lúc này Bồ tát đã được đẩy lên một bước ở cung trời.

c) Bồ tát trong kinh Bổn sanh: Bồ tát đã xuất hiện nhiều hình tượng khác nhau. ( 547 câu chuyện về cuộc đời của ngài tataka). Lúc này Bồ tát được quần chúng hóa, một bước ngoặc về tư tưởng vô cùng quan trọng. ( theo B.C Lau thì trật tự các kinh là Trung bộ, Trường bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ và Tiểu Bộ kinh).

d) Bồ tát trong Đại thừa: Về tâm lý, Nguyên thủy chỉ xoay vần một nhân vật thì không hấp dẫn, không thu hút. Thứ nữa là độc tôn tối cao. Tín ngưỡng đa thần được phục hưng nê có nhiều bồ tát ra đời. Nên nhân cách hóa của đức Phật để xây dựng hình ảnh bồ tát.

Lục độ hay thập độ: phương tiện vượt qua đến bờ bên kia, toàn thiện, cao cả. với đại thừa là đi đến bờ bên kia.

  1. IX.           Trình bày văn bản Phật giáo của Nguyên thủy, Bộ phái, Đại thừa
  2. 1.                 Văn bản Phật giáo của Nguyên thủy:

Văn điển Pali ( Phật giáo nguyên thủy)

  1. Nikaya ( kinh), riêng tiểu bộ kinh, có hơn phân nữa là do các bộ phại đưa vào sau phật nhập niết bàn 200 năm). Phần luật có ba bộ. (kinh pháp cú Nguyên thủy 423 bài kệ. pháp cú Đại thừa trên 500. Được rút ra từ những bài kệ các kinh trường bộ, trung bộ, và ra đời thời kỳ bộ phái).
  2. Vinaya ( luật)
  3. 2.                 Văn điển Pali bộ phái và văn điển Sanskrit bộ phái
  4. Nikaya: có 7 bộ Abhidhama, các vị Nam tông dịch là Vi diệu pháp/ Vô tỉ pháp. Nhưng trên nghiên cứu văn bản học thì đây là thời kỳ bộ phái, sớm nhất là thế kỷ thứ 3 sau Phật nhập diệt, và bộ luận đầu tiên là Bộ luận sự – Để loại bỏ kinh điển ngoại đạo ra khỏi kinh điển Phật giáo ( kết tập kinh điển lần thứ 3)
  5. Agma và Abhidharma ( A hàm và luận) các bộ A hàm và 7 bộ luận của Nhất Thiết Hữu bộ, 4 bộ A hàm kết tập sanskrit trong thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai). Bộ luận đầu tiên về sanskrit là bộ Phát trí luận, vào thời kaniska)
    1. 3.     Văn điển sanskrrit Đại thừa:

Bộ đầu tiên là bốn bộ a hàm, phương đẳng, sau đó là bát nhã, tất cả 9 bộ kinh đầu tiên của hệ tư tưởng đại thừa.

Prajnaparamita sutra ( bát nhã). Bộ cổ xưa nhất là bát thiên tụng bát nhã, biên soạn sớm nhất thứ nhất trước công nguyên, tư tưởng nền tảng đại thừa cho các kinh về sau. Bát nhã có gốc rễ từ tưởng kinh điển nguyên thủy. biên tập gần 1000 năm, chia làm 4 giai đoạn.

Bát thiên tụng bát nhã có nguồn gốc từ đại chúng bộ – giáo lý chủ yếu vô ngã. ( có thể làm vô ngã bát nhã và vô ngã nguyên thủy).

Giai đoạn ba tóm tắt bát nhã, tâm kinh bát nhã ra đời. kinh kim cang là phần rút gọn của bát nhã.

Giai đoạn 4 cả hệ thống bát nhã cô động lại thành chữ A. ( ô hay xuân đến bao giờ nhỉ; nghe tiếng hoa khai bỗng giật minh; sáng nay thức dậy choàng áo mới; vũ trụ muôn đời cũng mới tinh– đại lão hòa thượng mãn giác)

Bộ kinh thứ hai: saddhamapundarika = diệu pháp liên hoa kinh: ra đời vai trò chính trị xã hội. biên soạn thế kỷ thứ nhất sau tây lịch. Pháp hoa ra đời là đáp ứng nhu cầu thời đại ( tự tác luận, tha nhân luận, vô nhân luận).

 

 

Lớp tổ chức đi Long Hải sau khi thi (có chương trình riêng)

Kính thưa quý thầy cô, chúng ta học chung với nhau suốt bốn năm, ít nhiều thì cũng có những kỷ niệm vui buồn. Giây phút nói lời tạm biệt mái trường, thầy cô bạn bề cũng đã đến với mỗi người. Ai không ngậm ngùi trước những khoảnh khắt vãy tay chào, nói lời ly biệt, để đơn phương đi về một phương trời mới lạ, nơi đó ta gieo cho đời màu xanh cuộc sống. Với tinh thần đó, thay mặt các huynh đệ, chúng con tổ chức cho lớp mình một chuyến tham quan ấm tình bạn học, để mai đây còn chút tình với Triết

Thời gian: Sau khi thi môn Hán cổ buổi sáng.  Buổi chiều đúng 2h cùng ngày , lớp đi Long Hải, sinh hoạt cắm trại ở biển, ngày sau về lại Sài Gòn. ( nhằm ngày 04 – 04 – Âm lịch).

Số tiền: 250 ngàn.

Đăng ký: Trực tiếp An Tấn

Thời gian Đăng ký: 2 ngày thi đầu của khoa Triết.

Địa điểm tập trung: Học Viện Phật Giáo HCM.

Lưu Ý:

1. Khi Đăng Ký, nhớ kèm theo tiền.

2. Quý thầy cô đem theo võng, bình trà, máy ảnh, thuốc chống muỗi.

Kính báo

An Tấn

 

Soạn Bài Thành Thật Luận ( An Tấn soạn)

( Dựa theo Tài liệu giảng viên, những ý phụ, các huynh đệ tự bổ sung để tránh tình trạng trùng văn).

1)   Ý nghĩa thập hiệu trong Thành Thật Luận

Theo ý nghĩa nguyên thuỷ, những danh hiệu này chỉ cho bất cứ hành giả nào tu tập đã loại trừ phiền não, nhận chân được thật tướng của các pháp, vượt trên mọi khổ đau. Những danh hiệu này cho chúng ta thấy được những đức tính và năng lực của Phật. Không những Phật giáo sử dụng các thuật ngữ này mà ngoại đạo cũng sử dụng một số danh xưng này để chỉ cho những thánh nhân của họ. Thập hiệu theo luận Thành Thật:

謂如來。應供。正遍知。明行足。善逝。世間解。無上。調御。天人師。佛世尊。(Đ.32.242.1)

1.  Như lai: (tathāgata)

Luận Thành Thật nêu:

如來者乘如實道來成正覺故曰如來。有所言說皆實不虛。(Đ.32.242.1).

2.    Ứng cúng (arhan)

Đáng được tôn kính, cúng dường. Đức Phật là người đầy đủ cả 2 phương diện phước đức và trí tuệ, trang nghiêm, là phước điền của chúng sinh và thế gian, nên đáng nhận sự cúng dường của trời người.

3.    Chính biến tri (samyaksambuddha)

正 遍 知 còn gọi là:

三 藐 三 佛 陀 tam-miệu tam-phật-đà

正 等 覺chính đẳng giác

等 正 覺đẳng chính giác

Từ này có ý nghĩa tương đương với từ Phật. Cả 2 từ đều chỉ cho sự giác ngộ. Chỉ cho một bậc thấy, biết các pháp một cách chân chính.

4.    Minh hạnh túc (vidyācaraṇasampanna):

Danh xưng này chỉ cho sự hoàn thiện về trí tuệ và đức hạnh.

a)    Về trí tuệ: Đầy đủ các trí, diệt trừ vô minh. Phật biết những việc cần nên biết.

b)    Về đức hạnh: Giải thoát tự thân và giáo hoá chúng sinh diệt trừ phiền não, thoát khỏi khổ đau sinh tử.

5.    Thiện thệ (sugata): Khéo sử dụng nhất thiết trí làm phương tiện vận chuyển các pháp, tu tập Bát chính đạo, đoạn trừ phiền não, giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu chứng quả niết bàn. Hay còn có nghĩa là người đã đi trên con đường thiện.

6.    Thế gian giải (lokavid): đề cập đến trí tuệ Phật. Thấy rõ được sự tướng của hữu tình, và vô tình chúng sinh. Biết rõ căn cơ trình độ, sự hiểu biết của chúng sinh và sự sinh hoạt của thế gian.

7.    Vô thượng  (anuttaraḥ)

Đấng tối cao không ai bằng. Đối với pháp niết bàn Phật là vô thượng, đối với tất cả chúng sinh Phật là vô thượng.

8.    Điều ngự (puruṣadamyasārathin)

Người đã điều phục chế ngự được mình và người. Tuỳ theo đối tượng, tuỳ theo hoàn cảnh, trường hợp đức Phật giáo hoá khác nhau. Khi thì dùng lời nói nhu hoà, khi thì dùng lời nói cứng rắn, khi thì dùng lời nói bình thường. Cũng giống như người khéo huấn luyện một con ngựa và khéo điều khiển một chiếc xe.

9.    Thiên nhân sư (śāstā devamanuṣyānām) Diễn tả Phật như một bậc thầy, người chỉ đường giáo hoá nhân thiên. Như vậy Phật là thầy của trời người, cha lành bốn loài, đạo sư của 3 cõi.

10. Phật Thế tôn (buddha bhagavat): Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính. Đây chỉ cho quả vị, bậc đã giác ngộ, người tỉnh thức, người biết như thật. Đức Phật là đấng đã giác ngộ hoàn toàn, đầy đủ ba đức, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Tất cả các công đức trên đầy đủ, là đấng cao cả trong 3 đời, 10 phương thế giới nên gọi là thế tôn.

 

2)    Công đức của Tăng và vai trò của Tăng trong thời hiện đại

Công Đức Của Tăng

佛於處處自讚歎僧。是僧寶戒品清淨。定品慧品解脫品解脫知見品清淨。應請應禮合掌供養無上福田能益施者。(Đ.32.245.2)

Luận Thành Thật đưa ra 10 công đức của Tăng:

1.    Hoà hợp: chư tăng sống theo tinh thần 6 pháp hoà kính, không chống đối nhau.

2.    Thanh tịnh: 3 nghiệp thanh tịnh

3.    Tuỳ thuận thanh tịnh: khi giáo hóa tha nhân không bị nhiễm.

4.    Tu hành thanh tịnh: tu tập đúng chính pháp.

5.    Phước điền thanh tịnh: chỗ nương tựa của chúng sinh.

6.    Thành tựu về giới thanh tịnh: gồm 10 đức tính: tâm từ bi, thân, khẩu, ý thanh tịnh, tiết độ, thiểu dục, tri túc, chính hạnh, nhiếp căn, phạm hạnh, chính niệm và tỉnh giác.

7.    Thành tựu về định thanh tịnh: tức chứng được tứ thiền, tứ vô sắc…

8.    Thành tựu về tuệ thanh tịnh: đoạn trừ dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu chứng quả A-la-hán, được Tam minh, lục thông, Bát giải thoát…

9.    Thành tựu về giải thoát thanh tịnh: tức tâm không còn phiền não vô minh, nghiệp báo, luân hồi, sinh tử.

10. Thành tựu về giải thoát tri kiến thanh tịnh: tức thấy mình thật sự giải thoát. Nói cách khác là không còn chấp ngã và ngã sở

Vai Trò Của Tăng Trong Thời Hiện Đại

–         Giữ gìn giới luật

–         Học tập nội điển và ngoại điển

–         Hoằng dương phật pháp

–         Biết khéo léo uyển chuyển lời phật dạy trong kinh vào đơi sống xã hội

–         Trong hoằng phát phải biết tùy duyên bất biến

3)                phân tích nguyên nhân Tham khởi và giải thích tác hại của tham ( có hai ý chính: 1 là nêu lên nguyên nhân; 2 là giải thích tác hại ( nhớ có vị dụ minh chứng))

THAM:

Tâm ưa muốn, ham mê, đắm say, thích thú, cố giữ, keo kiết, ưng được thỏa mãn, mong được khoái lạc, danh vọng…

Tham là trạng thái mong cầu, truy tìm dục lạc qua năm giác quan, muốn thỏa mãn các dục lạc.

1.    Các tướng của tham: tham có 10 tướng trạng. 10 tướng này mô tả nội tâm khi tham khởi.

2.    Nhân của tham: các nguyên nhân khiến tham phát sinh, như: thức ăn, sắc đẹp, các thú vui…

3.    Tác hại của tham: Do tham nên con người tạo ra nhiều nhân đưa đến khổ đau cho tương lai và không từ bất cứ thủ đoạn, âm mưa nào để đạt được mục đích. Như luận Thành Thật nói về tác hại của tham: “(1) Ý vị ít lỗi nhiều, (2) Tăng thêm sự ràng buộc, (3) Đến chết không chán, (4) Thánh quở trách, (5) Không ác nào mà không làm

4.    Phương pháp đoạn tham: Luận Thành Thật nói rằng: “Nếu ai khéo tu tưởng vô thường có thể phá trừ được tất cả tham dục, tham sắc, tham vô sắc, tất cả hí trạo, kiêu mạn và vô minh”.

TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM ( Thầy Khả An Soạn)

Lưu ý, đây là nội dung ôn thi mới do chính giảng viên phổ biến vào buổi học cuối cùng. còn nội dung ôn thi trước đã được bỏ. Vì vậy bài soạn này theo nội dung ơn thi mới cập nhật.

1. Phật và chúng sinh không khác-Một tinh thần bất nhị

Có thể thấy, quan điểm này đã được biểu hiện rõ nét ngay từ đầu thời Trần, khi Quốc sư Viên Chứng, thầy của Trần Thái Tông đã đưa ra quan điểm về Phật: “tâm tịch nhi tri, thị danh chân Phật” (lòng lặng mà biết, đó chính là chân Phật). Và sau đó, tiếp nối thầy của mình Trần Thái Tông phát biểu: “Thân Phật tức là thân ta, không có hai tướng”. Với chủ trương tùy duyên, không xa lánh cõi trần, tích cực nhập thế và làm cho đời sáng tươi, mà Tuệ Trung đưa ra quan điểm con người vốn không cần đi tìm Phật ở đâu xa, Phật hiện hữu ngay trong tâm thức của mỗi chúng sanh hay Phật và chúng sinh không khác nhau. Tuệ Trung nói:

“Cũng nét mày ngang đường mũi dọc,

Phật với chúng sinh mặt khác nào”.

Như vậy, đây là một quan điểm mới về Phật rất tích cực vào thời Trần, được hình thành trong một bối cảnh đất nước Đại Việt đang nỗ lực bảo vệ các thành quả của cha ông ta đạt được, cũng như dốc lòng xây dựng và phát triển đất nước, ắt hẳn sẽ tạo sự tác động lớn vào tâm thức con người và xã hội.

Bởi lẽ, theo Phật giáo thì tâm thức là đầu mối của cuộc sống con người. Như Kinh Pháp Cú nói “Tâm dẫn đầu các pháp, Tâm làm chủ tâm tạo”. Thế nên, nếu con người tư duy hay nhìn nhận về đức Phật khác đi, thì chiều hướng sinh hoạt của con người trong cuộc sống cũng thay đổi hẳn. Nói như Tuệ Trung thì đã là con người thì ai “cũng nét mày ngang đường mũi dọc”. Phật thì cũng từ con người mà ra đó thôi.

Với quan điểm này thì Phật với ta chẳng có khác gì trong thực tại cuộc sống đời thường nếu ta biết nhìn ra và nhận lại con người thật của chính mình. Vì lẽ, con người thật của chúng ta chính là Phật. Còn con người mà lâu nay chúng ta tưởng là thật với tâm thức vọng động của các tướng trạng tham sân si chỉ là con người giả mà thôi.

Nếu mỗi người biết trở về và sống trọn vẹn với con người thật của chính mình, thì điều đó, theo nhãn quan của nhà Phật chính là giá trị cao nhất của đời người mà Tuệ Trung và các thiền sư Trúc Lâm nhìn nhận như là một lời giải đáp cho chúng là ta tại sao chúng ta hiện hữu trên đời này với nhiều khổ đau tăm tối vây quanh? Sự thật là do ta bỏ quên Phật thật ngay cõi lòng mình mà lặn lội tìm kiếm Phật tận đâu xa, hay nói cách khác là vì ta mê lầm nhận giả làm chơn, bỏ quên chân tánh, không tỏ rõ chính ta là Phật, cứ mãi sống theo vọng tình, lấy đây bỏ kia, nhân ngã bỉ thử, rơi vào nhị biên, thế nên mới lầm lũi khổ sở triền miên. Nếu nhận chân ta và Phật không khác, chỉ cần xả bỏ vọng tình và ái chấp thì ngay đây tâm thể an nhiên đồng như tâm Phật.

Và rồi một khi con người nhận thức sâu sắc rằng, Phật và tâm, phàm phu và bậc Thánh chỉ là những khái niệm giả danh, đối đãi trên ngôn từ chữ nghĩa của tư duy hữu ngã của tình thức phân biệt thì mới hay Phật và chúng sanh, Phàm và Thánh cũng chính tại chỗ mê và ngộ đó thôi. Trong bài Phật Tâm Ca, Tuệ Trung viết: “Xưa không có tâm, Nay không có Phật; Phàm, Thánh, người, trời nhanh như tia chớp”.

Đây cũng chính là tinh thần bất nhị mà Tuệ Trung đã quán triệt để bước ra ngoài vòng luẩn quẩn phân biệt qua lăng kính của tư duy hữu ngã, đối đãi nhị biên. Với trí tuệ cao vút Thượng Sĩ thấy phàm Thánh không hai; Niết-bàn sanh tử không hai, mọi sự đối đãi đều không có thực thể. Quả thật, Tuệ Trung đã khéo vén bức màn vô minh để khiến tâm thức của những người học thiền biết trở về với thực tại rằng con người chính là Phật, ngay đây không cần tìm nơi nào khác.

Theo quan niệm thông thường của người học Phật thì hầu hết đều nghĩ là chỉ cho Phật Thích Ca, Ngài đã nhập Niết bàn, không còn hiện hữu trên thế gian này. Nhưng dưới con mắt của các Thiền sư đạt đạo, Phật đích thực là “tâm tịch nhi tri, thị danh chân Phật” (lòng lặng mà biết, thì đó là chân Phật). Đây được xem là ý nghĩa về Phật hết sức gần gũi và nhân bản nhất.

Do đó, tâm Phật và tâm chúng sinh đâu có sai khác, bởi một điều đơn giản, ai cũng hiểu, ai cũng thấy Phật là người đã chứng ngộ nhờ công phu tự thân tu tập. Chúng sinh cũng thế thôi! Tự thân tu tập, tự thân hành trì, tự thân chứng ngộ thì họ cũng nhất định thành Phật. Và khi một người đã thông suốt đạo lý này thì giữa cuộc trần thế mộng huyễn này ta và người đều sống hài hòa thân thương không có gì chống trái nhau.

 

2. Phật tại tâm

Đối với Tuệ Trung, chủ trương Phật tại tâm có nghĩa là Phật (giác giả) ngay nơi tâm mình, thế nên ở trong bài Phật tâm ca Tuệ Trung viết:

“Vạn pháp chi tâm tức Phật tâm

Phật tâm khước dữ ngã tâm hiệp

Pháp nhĩ như nhiên cắng cổ kim”.

Có nghĩa là cái tâm của vạn pháp là tâm Phật và tâm của Phật lại hợp nhất với tâm của ta. Cái nguyên lý này cũng là cái nguyên lý mà Phật truyền cho Tổ và Tổ Tổ tương truyền. Đó là pháp vẫn như thế, là “pháp nhĩ như nhiên”, là thực tại như thị, như thực. Cho nên sự thể chứng thực tại là sự thể chúng của Phật tâm, là tự tại giải thoát, Niết-bàn tịch tĩnh. Với Tuệ Trung Thượng sỹ, Tâm là Phật và Phật cũng là Tâm, Phật và Tâm tuy hai mà một, tuy một mà hai. Vì Phật ở đây với ý nghĩa của bản thể như Quốc sư Viên Chứng nói chính là “lòng lặng mà biết” (tâm tịch nhi tri); nhưng cái “lòng lặng mà biết” (Phật) này nó không có hình tướng, không thể nắm bắt sờ mó được. Thế nên nếu có ai mong cầu tìm Phật ở ngoài mình thì càng tìm càng xa, chẳng khác gì tìm trăng đáy nước. Nhưng không vì vậy mà không có Phật. Phật là thật có, không ở đâu là không có Phật nhưng tìm Phật, coi Phật là một đối tượng để tìm thì không bao giờ thấy Phật. Tâm cũng vậy, không thể tìm Tâm được nhưng không ở đâu là không có tâm. Tâm thể hiện mọi nơi, mọi chỗ. Trong bài Tâm vương, Tuệ Trung  viết:

“Không hình không tướng chúa tâm ta,

Mắt dẫu ly châu đố nhận ra.

Muốn biết đâu là “khuôn mặt thực”,

Giữa trưa ngủ tít đến canh ba”.

Thế thì tại sao Tâm thể hiện mọi nơi như vậy mà mọi người không thấy? Vì nhãn quan của chúng sanh bị che mờ, bị phủ kín bởi bụi trần phiền não, si mê… nên không thấy Phật thực ngay nơi mình (khuôn mặt thực) vốn trong sáng viên mãn tròn đầy. Muốn thấy nó thì phải biết tháo bỏ cái “ngọc” trên mắt đi. Nhờ vậy mà Tâm Phật trong sáng, tròn đầy mới hiển lộ ra được.

Cũng như các Thiền gia khác, Tuệ Trung luôn gắn liền tâm với Phật thông qua một đoạn trong Phật tâm ca, Tuệ Trung viết:

“Phật, Phật, Phật, không thể thấy

Tâm, Tâm, Tâm, không thể nói

Khi tâm sinh thì Phật cũng sinh,

Khi Phật diệt thì tâm cũng diệt”.

Theo người viết thì điểm then chốt của bốn câu trên chính là, xét về mặt bản thể hay “triết lý Tánh Không” thì Phật và Tâm vốn không có tướng trạng, không thể dùng con mắt nhục nhãn mà có thể thấy, càng không thể dùng ngôn ngữ hý luận thế gian để lạm bàn rằng Phật là thế này, rằng Tâm là thế kia; do đó Tuệ Trung mới nói là “bất khả kiến, bất khả thuyết”. Nhưng nói như thế không có nghĩa là không có Tâm, không có Phật. Cho nên hai câu sau chính là đáp án. Phật và tâm tuy không thể thấy và không thể nói, nhưng “khi tâm sanh” thì “Phật cũng sanh”. Có nghĩa là khi Tâm có Phật (tịch nhi tri) thời Phật chính là tâm đó; và khi Phật diệt thì Tâm cũng diệt theo; có nghĩa là khi nội tâm không có yếu tố “tịch nhi tri” nữa thời Tâm cũng diệt theo, vì Tâm chính là Phật. Đây chính là quan điểm “Tức Tâm Tức Phật” của Mã Tổ bên Trung Quốc.

Qua đó càng chứng tỏ rằng “Phật tại tâm” là một trong những tư tưởng Thiền học quan trọng của Tuệ Trung. Tỉnh là Phật, mê là chúng sinh, Niết Bàn hay Địa ngục cũng đều như thế cả. Sống trong thực tánh giai Không thì dù có đi trên than hồng vẫn rực rỡ sắc hương như thường (nhứt đóa hồng lô hỏa lý liên). Chúng ta cũng có thể bắt gặp một phong thái tiêu dao nhàn nhã giữa hồng trần như vậy nơi một Thiền sư Trung Quốc- Huyền Giác thiền sư. Trong Chứng đạo ca, Thiền sư ngất ngưởng ca hát rằng:

“Anh thấy chăng!

Dứt học, vô vi ấy đạo nhân,

Không trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân.

Tánh thực vô minh tức Phật tánh,

Thân không ảo hóa tức pháp thân.”.

Như vậy, quan niệm về Tâm cũng như về Phật được coi như đồng nhất với tự tánh giai Không. Không thể diễn đat được tánh Không là gì thì cũng không thể giải thích Tâm là gì. Nó như thế, như thế và như thế…

Như vậy, với quan niệm về Phật tại tâm, Tuệ Trung Thượng sĩ đã bộc lộ khí chất đạo vị thâm sâu, phong thái tiêu dao nhàn hạ, giải thoát khỏi mọi ràng buộc của trần cảnh. Khắc Chung trong lời bạt cho tác phẩm Ngữ lục đã không ngớt lời ngợi khen rằng: “Thần Khắc Chung tôi bái nhận quyển lục này, thắp hương kính cẩn quỳ đọc. mới đầu như say, kế đó như tỉnh, rồi sau tâm mắt sáng tỏ, nhất thời không biết vì sao mà lại như vậy”. Mới chỉ đọc thơ văn của ông đã như vậy thì bản thân cuộc đời của Thượng sĩ còn tuyệt vời như thế nào nữa!

3. Hòa quang đồng trần

Có thể nói, một trong những tư tưởng chính và xuyên suốt của toàn bộ tác phẩm Thượng Sĩ Ngữ Lục của Tuệ Trung là “hòa quang đồng trần”. Trong Thượng sĩ hành trạng Trần Nhân Tông đã có lời nhận định về Tuệ Trung như sau: “Hòa ánh sáng lẫn với thế tục (hòa quang đồng trần), Ngài cùng mọi người chưa từng chống trái, nên hay làm hưng thịnh hạt giống chánh pháp, dạy dỗ được hàng sơ cơ, người đến hỏi han, Ngài đều chỉ dạy cương yếu, khiến họ trụ tâm, tánh tùy phương tiện khi hiện khi ẩn, trọn không có tên thật”. Qua lời nhận định của Trần Nhân Tông về Thượng sĩ đã cho thấy phong thái sống chan hòa mà an nhiên của Tuệ Trung trong cuộc sống đời thường. Và chính tư tưởng hòa quang đồng trần này của Tuệ Trung đã làm hưng thịnh cho đạo pháp và dân tộc một cách thực tế nhất. Bởi lẽ, nếu một người tu Phật mà xa lánh cuộc đời, chỉ ưa thích tìm sự nhàn hạ cho mình thì tự thân những người Thích tử đã đánh mất đi giá trị nhân bản thiêng liêng cao quý của Đạo Phật nói chung và lý tưởng “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” vốn là phương châm tự lợi và lợi tha của người con Phật.

Do đó, với tư tưởng hòa quang đồng trần, Tuệ Trung đã vận dụng triệt để tinh thần Bồ Tát đạo của Phật giáo vào trong thực tiễn, làm lợi ích chúng sanh bằng lối sống nhập thế tích cực. Đây chính là phương thức góp phần làm hưng thịnh cho đạo pháp và dân tộc một cách thực tế nhất.

Vào thời nhà Trần, yêu cầu của lịch sử đặt ra là cả nước tập trung nhân lực và trí tuệ để xây dựng đất nước. Mọi người dân, Phật tử đều phải tích cực vào đời làm lợi ích và rạng rỡ cho đời.

Thực ra, đây cũng là chủ trương có từ thời Đức Phật, các Tỳ-kheo từ sự chứng đạt đạo lý Phật dạy do tự thân tu tập mà vượt thoát từ trong cuộc sống trần tục. Sau khi tự thân đã giác ngộ, năng lượng tâm linh thực sự vững vàng thì du hành trong cuộc đời để lợi lạc quần sanh. Tinh thần hay lý tưởng Bồ-tát vì hạnh nguyện độ sanh còn được thể hiện qua bài Kinh Bẫy Sập thuộc Kinh Tương Ưng bộ như sau:

“Này các Tỷ-kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. “.

Tuy nhiên, có một sự khác biệt ở đây rằng, các Tỳ-kheo thời Phật dưới sự dẫn dắt và chỉ dạy của đức Phật cũng như nương vào đại chúng mà các vị gia công tu tập để đạt kết quả giải thoát.

Trong khi đó, Tuệ Trung dấn thân, sống dung tục với đời mà đạt ngộ với tông chỉ của Thiền sư Tiêu Dao. Tông chỉ ấy, ông từng trả lời với Trần Nhân Tông: “Soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được”. Quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ là tự mình trở về chính mình để an trú giải thoát.

Đời sống sinh hoạt Phật giáo luôn gắn liền đời sống sinh hoạt của dân tộc. Chủ trương hòa quang đồng trần, tức là phải nhập cuộc với đời sống trần tục và phải làm cho đời thêm sáng tươi là nhiệm vụ hàng đầu không chỉ dành cho giới Phật giáo mà còn phải huy động toàn thể sức mạnh cả dân tộc. Cho nên, mỗi cá nhân không thể tách rời cộng đồng, không thể buông bỏ cuộc đời, chỉ trong sinh tử mới tìm thấy không có sinh tử, ở trong phàm tục mới có bậc Thánh giác ngộ ở đời. Với cái nhìn như thế, con người không còn phân biệt đối đãi giữa các cặp phạm trù Niết bàn hay sinh tử, tội hay phước, phiền não hay bồ đề. Các khái niệm đó cần được quét sạch từ trong nhận thức:

“Niết bàn sinh tử mạn la lung, Phiền não Bồ đề nhàn đối địch.”

Cũng ý tứ này, Trong bài “Sống Chết nhàn mà thôi”, Tuệ Trung tuyên bố:

“Sanh tử xưa nay vốn tánh không, Thân hư dối này rồi cũng diệt

Phiền não Bồ-đề bổng mất tiêu, Địa ngục thiên đường tự khô kiệt”.

Như vậy, các vấn đề nan giải như sinh tử và Niết bàn, phiền não và Bồ đề, địa ngục và Thiên đường, có và không… đến giai đoạn này đã được Tuệ Trung kiến giải một cách triệt để. Nếp sống thiền không còn giới hạn trong khuôn viên nhà chùa với việc tu trì hay chấp tác bình thường mà còn ra vào tự tại mọi nơi, thậm chí ngay giữa chiến trường bảo vệ non sông Tổ quốc trong ý nghĩa “chiến trường là thiền đường”.

Nói tóm lại, Tuệ Trung là con người thuộc tầng lớp tri thức cao nhưng cái quý là ông đã giữ được mối liên hệ với mọi người, với cuộc đời. Và tư tưởng Thiền học của ông bắt nguồn từ cuộc đời. Với bản lĩnh trải nghiệm những cam go, chịu đựng nhiều thử thách, nào là “gió mưa”, “cô đơn”, là thân “Tùng bên khe suối” (Giản để tùng), ông vẫn hài hòa giữa đạo với đời, thanh cao mà nhập thế; bên khe vắng mà vẫn nghĩ về một thân phận sinh ra phải là lương đống cho triều đình, là người tề gia, giúp nước, làm lợi ích cho nhân dân. Do đó, cuộc đời và tư tưởng của Tuệ Trung cho ta thấy đúng như vua Trần Nhân Tông nhận xét là “cùng thế tục hòa sáng”. Ông luôn gần với nhân dân, là bạn của nhân dân. Chắc hẳn, Thượng sĩ sẽ không muốn sang bến giác một mình. Như vậy, “hòa quang đồng trần” là một tư tưởng đầy tính nhân bản của Tuệ Trung Thượng sĩ.

 

4. QUAN ĐIỂM BIỆN TÂM

Trước hết “quan điểm biện tâm” của Trần Thái Tông được phát biểu qua nội dung như sau:“Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn, hưu biệt tại gia xuất gia. Bất câu tăng tục chỉ yếu biện tâm”. Nghĩa là: Không phân biệt là sống giữa đời hay sống ẩn dật trong rừng, không phân biệt là tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, chỉ cốt biện tâm. Với chủ trương, chân lý tối hậu chẳng nhọc phải tìm xa, chỉ cần tìm hiểu nơi tự thân (biện tâm), thì sẽ thấy được tính giác ngộ đó mà thành Phật: “Nếu biết chiếu rọi ánh sáng (trí tuệ) trở lại, thì sẽ thấy tánh mà thành Phật”. Thế nên trong bài “Niệm Phật luận”, Trần Thái Tông đã phát biểu một cách dứt khoát “Thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng”.

Trên cơ sở này, đã cho chúng ta thấy từ quan điểm “Phật tại tâm” đã hình thành nên quan điểm “biện tâm” như là một quy luật có tính logic và biện chứng. Vì sao? Bởi lẽ, tâm mê là chúng sanh, tâm giác Phật (Phật tại tâm); nhưng muốn giác ngộ thành Phật thì phải dụng công tu tập nơi tự thân (tức là biện tâm). Có nghĩa là Phật tại tâm, nên chỉ cần biện được tâm thì tâm đó là Phật.

Về công phu biện tâm ta có thể hiểu đại khái qua nội dung sau đây: “Giữ cho không một niệm nào khởi lên trong tâm thức, bởi vì niệm là ngoại trần, là hư giả không thật. Khiến cho cả trần và niệm bình lặng, không khởi lên nữa, thời sẽ đạt tới cảnh như như bất động…”. Thế thì biện tâm ở đây của Trần Thái Tông cũng không khác gì điều phục tâm, phòng hộ tâm, an trú tâm, uốn nắn tâm cho thẳng như tinh thần của Kinh Pháp cú vậy: “Khó nắm giữ khinh động, Theo các dục quay cuồng, Lành thay điều phục tâm, Tâm điều an lạc đến”(Pháp cú, Kệ 35).

Với tinh thần này, chúng ta có thể nói “quan điểm biện tâm” là “Phật giáo của mọi người” chứ không riêng của Tăng sĩ, và bất cứ ở đâu, lúc nào cũng hành trì được. Vì lẽ “biện tâm” hay điều phục tâm là “biện”, là “điều phục” ngay nội tâm của mính chứ không phải của ai khác. Chỉ cần từng phút giây trong mọi sinh hoạt của đời thường, chúng ta luôn chánh niệm, tỉnh giác không để vọng niệm, trần duyên lôi cuốn; sống và xử lý mọi việc bằng ánh sáng trí tuệ của tự tâm thì khi đó cuộc sống của chúng ta sẽ trôi chảy trong sự an lành, nhẹ nhàng và bình ổn.

Có thể thấy, quan điểm biện tâm là một trong nhưng tư tưởng cốt lõi quan trọng trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Phật giáo thời Trần. Và, sức mạnh của Phật giáo thời Trần, phần lớn chính là nằm ở chỗ đó.

PHƯƠNG THỨC HOẰNG PHÁP THỜI TRẦN

​1. PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT​

​ Phàm niệm Phật là do tâm khởi. Tâm khởi thiện thì niệm thiện, khởi niệm thiện thì nghiệp báo thiện. Tâm khởi ác là niệm ác, sanh nghiệp ác thì ứng nghiệp ác. Như gương hiện ảnh, tợ bóng theo hình. Nay học giả muốn khởi chánh niệm để dứt ba nghiệp, cũng nhờ công niệm Phật. Thế nào là niệm Phật được dứt ba nghiệp? Vì khi niệm Phật thân ngồi ngay thẳng, không làm hạnh tà là dứt thân nghiệp. Miệng tụng chân ngôn, chẳng nói lời tà là dứt khẩu nghiệp. Ý gắng tinh tấn, chẳng khởi niệm tà là dứt ý nghiệp. Songngười trí có ba bậc:

​Bậc thượng trí thì tâm tức là Phật, chẳng nhờ tu thêm. Niệm tức là trần, chẳng cho một điểm. Niệm trần vốn tịnh, nên gọi như như bất động, tức là thân Phật. Thân Phật tức là thân ta, không có hai tướng. Tướng tướng không hai, lặng lẽ thường còn, còn mà chẳng biết, đó là Phật sống.

​Bậc trung trí ắt nương niệm Phật. Chú ý chuyên cần, niệm niệm chẳng quên, tự tâm thuần thiện. Niệm thiện đã hiện, niệm ác liền tiêu. Niệm ác đã tiêu, chỉ còn niệm thiện. Do niệm là ý niệm, nên niệm niệm diệt đó. Khi niệm diệt ắt về chánh đạo. Lúc mạng chung được vui Niết-bàn – thường lạc ngã tịnh – là Phật đạo vậy.

​Bậc hạ trí thì miệng siêng niệm lời Phật, tâm muốn thấy tướng Phật, thân nguyện sanh về nước Phật. Ngày đêm siêng năng tu hành, không có thối chuyển. Sau khi mạng chung, tùy niệm thiện đó được sanh về nước Phật. Sau được chư Phật dạy bảo chánh pháp, chứng được Bồ-đề, cũng vào quả Phật.

2. PHƯƠNG PHÁP SÁM HỐI

​Phương pháp sám hối của Trần Thái Tông thường được biết đến thông qua tác phẩm Lục thời Sám Hối Khoa Nghi trong Khóa Hư Lục, tức là một nghi thức sám hối mà chính vua sáng tác để thực tập. Đọc trong Khoá Hư Lục chúng ta sẽ bất ngờ khi từng trang được giở ra là một lời sám hối. Chưa có một trứ tác nào của một vị vua nói về sám hối tường tận như Lục Thời sám hối khoa nghi. Chứng tỏ “sám hối” đối với Trần Thái Tông không những về lý thuyết mà còn là một chìa khóa tu thân đặc biệt. Lục Thời sám hối khoa nghi theo TTT đã được ông chứng thực cho mình và cho người “tự lợi” và “lợi tha”.​Trần Thái Tông  tuy miệng dư thừa thức ngon vật lạ, “mình đầy vàng ngọc” nhưng lại hàng ngày thực hiện chuyên cần cho mình (tự lợi) sáu thời sám hối nghiệp chướng do “sáu căn” gây ra để tự làm trong sạch mình như là phương thức chuyển nghiệp.

​HT Thích Thanh Tư cũng đã cho rằng: “Có lẽ ngài cảm thấy mình tội lỗi nên trằn trọc tìm cách giải những tội lỗi trước kia. Ngài tìm được khoa nghi Sám Hối này, Ngài tự tu, Ngài sám hối, đó là tự lợi, để người sau bắt chước tu theo đó là lợi tha. Như vậy Ngài biết mình không trong sạch nên phải sám hối rồi chỉ dạy cho người biết sám hối như Ngài”[]. Hành động này không phải là một hành động tôn giáo huyền bí mà là một hành động tự giác sâu xa về tác nghiệp. Trần Thái Tông đã tìm thấy trong các kinh điển diệu dụng của sám hối: “Cho nên kinh Ðại Tập nói: như áo dơ hàng trăm năm, có thể trong một ngày giặt được sạch sẽ. Như thế trong trăm ngàn kiếp đã tích tập các nghiệp chẳng lành, do nhờ lực Phật, khéo thuận tư duy, có thể  trong một ngày hay một giờ, trọn hay tiêu diệt”. àbình giải thêm​

3. PHƯƠNG PHÁP TỌA THIỀN​

​Phàm người học đạo chỉ cầu kiến tánh. Tuy thọ được tất cả tịnh giới, mà không tọa thiền thì định lực chẳng sanh; định lực chẳng sanh thì vọng niệm không diệt, muốn được kiến tánh, thật là khó vậy. Đức Phật Thích-ca vào núi Tuyết, ngồi ngay thẳng sáu năm, chim Cáp làm tổ trên đầu, cỏ tranh mọc xuyên qua bắp vế, mà thân tâm thản nhiên. Tử Cơ ngồi tựa ghế, thân như cây khô, tâm tợ tro tàn. Nhan Hồi ngồi quên, tay chân rời rã. Đuổi thông minh, lìa ngu trí, đồng với đại đạo. Đó là các bậc Thánh Hiền trong tam giáo ngày xưa, đã từng ngồi định. Song đi đứng nằm ngồi đều là thiền, không phải chỉ riêng ngồi. Nhưng vì đi thì cất bước, đứng thì nhọc nhằn, nằm thì mờ mịt mà yên tĩnh, yên tĩnh thì cái nghĩ sanh, nghĩ sanh thì niệm khởi. Muốn dứt các niệm, nên tập ngồi thiền định. Thiền có bốn thứ:

1. Tạo kế khác, ưa trên chán dưới mà tu, gọi là “Ngoại đạo thiền”.

2. Chánh tín nhân quả, cũng ưa trên chán dưới mà tu, gọi là “Phàm phu thiền”.

3. Rõ lý sanh (nhân) không, chứng đạo thiên chân mà tu, gọi là “Tiểu giáo thiền”.

4. Đạt nhân, pháp đều không mà tu, gọi là “Đại giáo thiền”. Nay, người hậu học, cần lấy “Đại giáo thiền” làm chánh. Nơi đây tập tọa thiền dứt niệm, chớ sanh kiến giải.

 

LƯU Ý: Đây chỉ là nội dung của 3 phương thức. (Việc vận dụng trong “Hoằng Pháp” như thế nào thì tự mình bình giải thêm)

Kinh Thủ Lăng Nghiêm ( đây là phần hoàn chỉnh bài soạn) An Tấn soạn

Soạn Bài Ôn Thi Môn: Kinh thủ Lăng Nghiêm

  1. 1.                 Khái quát Kinh Thủ Lăng Ngiêm:

Kinh Thủ-lăng-nghiêm (首楞嚴經),một bộ Kinh đại thừa, gọi đủ là Đại Phật đảnh, Như Lai mật nhân, tu chứng liễu nghĩa, chư Bồ-tát vạn hạnh, Thủ-lăng-nghiêm (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經),còn được gọi là Trung Ấn Độ Na-lan-đà đại Đạo tràng Kinh (中印度那爛陀大道場經), gọi tắt là Đại Phật đảnh Thủ-lăng-nghiêm Kinh (大佛頂首楞嚴經)、Đại Phật đỉnh Kinh (大佛頂經)、phổ biến nhất là Thủ-lăng-nghiêm Kinh (首楞嚴經).

Đề kinh gồm Nhơn, Pháp và Dụ. Đại Phật Đảnh là dụ. Như Lai Mật Nhân là nhơn, Thủ Lăng Nghiêm là Pháp.

Dựa vào Đại tạng Kinh, đây là bộ Kinh thuộc Quán đảnh bộ (灌頂部錄出別行). Theo ngài Ấn Thuận, Kinh này xiển dương triết lý Như Lai tạng (如來藏), cùng mô típ triết lý của các Kinh Viên Giác (圓覺經), Đại thừa khởi tín luận (大乘起信論)

Theo truyền thuyết, người có công truyền bá Kinh này tại Trung Quốc là ngài Bát-lạt Mật-đế (般剌密諦) thời Đường (618-907) và Di-già Thích-ca dịch ra Hán văn. Từ sau triều Minh (1366-1661) và triều Thanh Trung Quốc, Kinh Thủ-lăng-nghiêm được các nhân sĩ Phật giáo Hán truyền đề cao như bản kinh quan trọng trong học thuật và hành trì tại Trung Quốc.

Công năng và mục đích của Kinh là giúp hành giả chuyển hóa phiền não, thực tập thiền quán, chứng đắc tuệ giác, nhận diện chân tâm thường trú và thể tánh tịnh minh

  1. ( bài 2) Tâm không tồn tại bất kỳ ở một vị trí nào cũng không phải những suy nghĩ hay bất kỳ hiện tượng ( vô trước)nào.

Qua cuộc đối thoại giữa Đức Phật và ngài A nan, đức Phật đã bác bỏ: tâm ở trong thân; tâm ở ngoài thân;tâm cũng không phải ở giữa; tâm núp sau mắt; tâm không phải là bóng tối; tâm không phải là những suy nghĩ của chúng ta; không thể dùng ngôn thuyết để diễn đạt về tâm ( lưu ý ở đây đức Phật chỉ cho tâm thanh tịnh chứ không phải những tâm sở.

  1. 3.                 ( bài 3 : Nhận diện chân tâm của chính mình

Trước khi đức Phật chỉ ra đâu là chân tâm, đức Phật chỉ ra hai điều căn bản để nhận thức tu tập. Một là căn bản của sanh tử là từ vô thủy; Bồ đề niết bàn cũng từ vô thủy chưa từng mất đi. Nếu không hiểu hai điều căn bản này thì dù tu cho mấy cũng giống như muốn nấu cát thành cơm, chuyện không bao giờ có.

Đức Phậ khẳng định, chân tâm không phải là sự phân biệt bằng tri giác. Nếu chấp tri giác là tâm, thì tâm này lìa tất cả sự vật lục trần phải riêng có tự thể nhưng ở đây không có tự thể, sự phân biệt chỉ là tâm theo duyên cảnh chứ không phải là chân tâm. Sự phân biệt chỉ là bóng của tiền trần.

Vọng tưởng, phiền não được vị dụ như khách trần, không phải là Chân tâm.

Chân tâm hay tâm không hề động. Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm minh họa: đức Phật co năm ngón tay lại, và thả ra. Thì tay động nhưng cái thầy không động bởi vì cái tay có co có năm, nhưng cái thấy không co và cũng không nắm. cũng vậy, cái đầu chúng ta xoay qua xoay lại nhưng cái thầy không xoay nên gọi tánh thấy chẳng động.

  1. ( bài 04 và 05) Bản chất tánh thấy. Tánh thấy như đức Phật đã khẳng định, nó từ vô thủy đến vô chung nên không chi phối bởi thời gian hay không gian, nó không già không trẻ và ta không thể nào dùng khái niệm ngôn ngữ để diễn tả.

Do vậy, đức Phật ví dụ: Tánh thấy như người chủ khách sạn, khách đến rồi đi nhưng chủ vẫn ở đó, thân vô thường này sanh diệt nhưng tánh thấy không hề mất; Các vị  khú khác trong bài cũng giải thích tương tự như vậy. đừng ngộ nhận hiện tượng làm bản thể, phương tiện làm cứu cánh. Bọt nước không phải là biển, ngón tay không phải là mặt trăng, bóng trăng hiện dưới nước không phải là mặt trăng v.v….

Tánh thấy hay kiến tinh là tự thệ, chứ không ở trước con mắt cũng chẳng ở đâu nó cũng chính là chân tâm, theo căn mắt mà nói là kiến tinh.

Tánh thấy cũng không có hình tướng, nên nó không lớn nhỏ. Ví như hư không ở trong khuôn vuông thì gọi là vuông nhưng không nhất định. Khi tháo khuôn ra đặt khuôn tròn thì trọn v.v…

Nhằm chỉ rõ hơn về tánh thấy cũng như chân tâm, đức Phật nói Chân tâm vượt ra khỏi tự nhiên, nhân duyên, vọng kiến phân biệt. Bởi vì ta hiểu nếu cái gọi là “ tự nhiên”  thì chẳng khác nào kiến chấp sai lầm của ngoại đạo( thuyết này của ngoại đạo chủ trương tất cả đều là tự nhiên), nếu chân tâm là nhân duyên thì có giả hợp trong khi đó chân tâm là thường hằng, thanh tịnh, vọng kiến càng không phải chân tâm mà chỉ là tâm sở.

  1. ( bài 6) Bản chất của năm uẩn, sáu giác quan và bảy đại ngã
  2. a.                 Năm uẩn: Năm uẩn trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật đề cấp đến không phải chỉ để phân tích vô thường hay giả hợp mà đề cập đến bản chất thật của năm uẩn.

Về thân: nó là hư vọng, duyên hợp nhưng không phải tánh của duyên, không đánh đồng thân là tánh của duyên, cũng không phải tự nhiên mà có. Đức Phật minh chứng thân như hoa đốm. Hoa đốm không phải từ hư không mà có cũng không phải từ mắt. Nếu từ hư không ra, ắt phải trở vào hư không, nếu có ra vào thì chẳng phải hư không. Nếu hư không chẳng phải hư không thì tự nhiên chẳng thể dung nạp tướng hoa đốm sanh diệt trong đó, cũng như thân thể A Nan chảng dung nạp được  một trong đó

Tương tự, cảm giác ( thọ ấm), tri giác ( tưởng ấm), thức ấm và hành ấm cũng vậy, cũng không phải tánh của duyên, cũng không phải tánh tự nhiên. Năm ấm này không một đâu sanh ra, cũng không đi về đâu mà tất cả do duyên kết hợp gọi là tạm có ngũ ấm. Nhưng không vì duyên giả hợp lại thành năm ấm rồi đánh đồng năm ấm này là tánh của duyên. Vì khi gọi là tánh thì nó không phải là hiện tượng, duyên chỉ là hiện tượng tánh của duyên.

  1. b.                Bản chất của Sáu giác quan:  mắt tai mũi lưỡi thân và ý dụng của sáu giác quan này là duyên theo trần cảnh mà có. Tánh của sáu giác quan này không bị chi phối bởi duyên, hay hư vọng của trần cảnh, nó cũng không phải tánh của duyên, cũng không phải tánh tự nhiên. Tánh của sáu giác quan này thanh tịnh vô thủy vô chung nên gọi là vô sanh.

ð    Năm uẩn, sáu giác quan, bảy đại tất cả đều không có từ một vị trí, hay do một vật gì sanh ra. Sự có mặt là duyên, nhưng đây không phải là tánh của duyên mà hiện tượng của duyên nên tất cả đều gọi Tánh của  nó  là “vô sanh”.

  1. 6.                 ( Bài 7) Bội trần hiệp giác: Ở nội dung bài kinh này, đức Phật chỉ cho chúng sanh thấy Tánh giá ( Diệu minh) thường hằng trong chúng sanh. Nhưng do vì  , tùy theo nghiệp thức biến hiện nên vô minh bắtđầu; một niệm vô minh bỗng khởi, thì bản giác lìa tánh không mà sanh vọng minh, tánh không cũng lìa bản giác mà sanh ám muội. Nên nên nghe chẳng ra ngoài tiếng, thấy chẳng vượt khỏi sắc, sáu thứ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đã vọng lập, do đó chia ra Kiến, Văn, Giác, Tri.  Từ đó, chúng sanh trôi lăn trong sanh tử tương tục. Khi chúng sanh lìa tánh giác, sống với vọng tâm thì tao ra vô số nghiệp nên nghiệp cũng tương tục. Ví dụ như do tư tưởng thương yêu liên kết thành nghiệp, yêu mãi không rời thì những cha mẹ con cháu trong thế gian sanh nhau chẳng ngừng, ấy đều từ gốc Dục Tham sanh khởi. Tương tự tâm tham ái, tâm sát hại, tâm sân hận tạo ra nghiệp lực không dừng nên tương tục mãi trong lục đạo.

Như đã nói, tánh giác thường hằng, sẵn có ở mỗi người. Như do mê lầm, con người vừa món tâm thì trần lao phiền não làm quyến thuộc. Khi sống với tánh giác, không còn sống theo duyên trần thì lúc đó người ấy trở về với tánh giác vốn có của mình nên gọi là “ Bội trần hiệp giác”. Để chứng minh tánh giác sẵn có nơi con người, đức Phật đưa ví như những cây đàn: cầm sắt, tỳ bà, dù có diệu âm, nếu chẳng có sự khéo léo của ngón tay, thì diệu âm chẳng thể phát ra. Cái diệu tâm chơn thật của ngươi và chúng sanh mỗi mỗi vốn sẵn đầy đủ. Nhưng phải biết khéo léo sống mới có thể sống được với diệu âm, tánh giác.

  1. 7.                 ( bài 8) Vô Công dụng đạo và sáu căn viên thông

Trong kinh Lăng Nghiêm có một ví dụ rất nổi tiếng. Có ông tên Diễn Nhã Đạt Đa, khi soi gương không thấy cái đầu mình trong gương liên ôm đầu chạy, hỏi đầu tôi đâu, đầu tôi đâu?

Qua vị dụ đó nói lên Phật tánh ( tánh giác, diệu tâm) vốn sẵn có, cũng như cái đầu của ông Diễn Nhã Đạt Đa, nhưng vì vọng kiến sai lầm nên không nhận ra. Mà tánh giác không phải là duyên hay tự nhiện nên đừng chấp những hiện tượng mắt thấy tai nghe v.v… là tánh của chúng, hay tánh của duyên. Nếu chấp vào đó thì giống như ôm đầu chạy hỏi đầu tôi đâu. Khi không còn chấp hay nhận lầm khách là chủ nữa thì tâm bồ đề sáng tỏ. Tâm bồ đề sanh thì tâm sanh diệt được diệt, ấy cũng là sanh diệt; khi sanh và diệt đều sạch, mới gọi là vô công dụng đạo. Gọi là sanh diệt là đứng trên hiện tượng, còn tánh nó không sanh diệt là đứng trên bản thể hay thật tánh của các pháp.

Như đoạn kinh Lăng Nghiêm đã giải thích “ Nếu có sự chẳng sanh, chẳng diệt gọi là tự nhiên, thì tâm tự nhiên này là do sanh diệt đã sạch mà hiện, ấy cũng là pháp sanh diệt, chẳng phải Bồ Đề. Cái lý chẳng sanh diệt kia gọi là tự nhiên, cũng như các tướng lẫn lộn thành một thể của thế gian, gọi là tánh hòa hợp; cái chẳng hòa hợp thì gọi là tự nhiên. Tự nhiên chẳng phải tự nhiên, hòa hợp chẳng phải hòa hợp, tự nhiên và hòa hợp đều lìa, có lìa có hợp đều sai,đến chỗ này mới được gọi là pháp chẳng hý luận”.

Đức Phật giải thích Ngũ trược trong kinh Lăng Nghiêm:

Tánh giác được ví như nước trong, trược ví như đất, các, rác … bỏ vào nước trong làm nước mất đi sự trong sạch nên gọi là trược.

–                     Kiếp trược: hư không thì chẳng có bản thể, tức là ngoan không; kiến tinh thì chẳng có bản giác, tức là vô minh, cả hai giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ nhất, gọi là Kiếp Trược.

– Kiến, Văn, Giác, Tri vốn chẳng ngăn ngại, vì kẹt nơi tứ đại nên thành ngăn ngại; Địa, Thủy, Hỏa, Phong vốn chẳng giác tri, vì xoay chuyển theo lục căn thành có giác tri, các điều đó giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ hai, gọi là Kiến Trược.

– Lại, trong tâm ngươi, tánh tưởng nhớ học tập phát ra tri kiến, dung nạp lục trần, lìa trần thì chẳng có tướng, lìa giác thì chẳng có tánh, từ đó giao kết lẫn nhau vọng thành lớp thứ ba gọi là Phiền Não Trược.

– Lại tâm niệm của ngươi ngày đêm sanh diệt chẳng ngừng, tri kiến thì muốn ở mãi trên thếgian, nhưng nghiệp báo xoay vần lại thường dời đổi trong lục đạo, những điều ấy giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ tư, gọi là Chúng Sanh Trược.

– Tánh kiến văn của các ngươi vốn chẳng khác biệt, do lục trần ngăn cách, bỗng thành khác biệt, tánh biết thì đồng, sự dụng thì khác, đồng và khác chẳng định, từ đó giao kết lẫn nhau, vọng thành lớp thứ năm, gọi là Mệnh Trược.

Sáu căn viên thông

Đây là đức Phật chỉ ra phương pháp tu lục căn. Mỗi người tự biết mình có ưu và liệt căn nào thì tu tập căn đó. Nếu chọn đúng một căn nào đó để tu thì tu một ngày hiệu quả bằng một kiếp. Và khi một căn đã viên thông, trở về với tánh giác của cắn đó thì các căn khác cũng đồng về tánh giác. Và trong sáu căn đức Phật khích lệ tu “ Nhĩ căn viên thông”. Khi viên thông căn nào đó thì giác quan của căn đó trở thành tánh giác không còn ngăn ngại bởi tứ đại và trần cảnh.

Tánh nghe là thường trù

Ví dụ: chúng ta nghe nhạc, nhạc tắt rồi nhưng vẫn còn nghe, nghe cái gì, nghe sự im lặng. Như vậy nhạc có tắt có mở nhưng nghe vẫn thường trú nơi chúng ta. Do chân lý này đức Phật chỉ tánh nghe là thường trú.

  1. 8.                 (Bài 09, và 10) phương pháp tu và chứng ngộ của A la hán

Kiến và tưởng không có tự tánh

Đức Phật khẳng định trong kinh Lăng Nghiêm sáu căn là cội gốc của vô minh và niết bàn. “ Căn trần cùng gốc, thắt mở chẳng hai, tánh thức hư vọng như hoa đốm trên không. A Nan, do trần phát tri, vì căn kiến tướng; kiến và tướng chẳng có tự tánh, như những cây sậy gác vào nhau, cho nên ngươi nay lập tri kiến thành tri, tức là căn bản của vô minh, nếu đối với tri kiến chẳng chấp là tri kiến, ấy tức là Niết Bàn, trong sạch vô lậu, làm sao trong đó còn có thể dung nạp vật khác”.

Mở trói các giác quan

Tánh tướng vốn đồng nhất, niết bàn sanh tử là một. Đứng trên phương diện đối đãi thì có hai nhưng thật tánh các pháp là một. Đức Phật ví dụ cái khăn, khi chưa thắt gút gọi là cái khăn, thắt 1 gút, 2 gút  đến 6 gút gọi gút kết những tên khác nhau. Nhưng cái khăn chỉ có một, hiện tượng có khác nên có hai, ba…tất cả tướng là hư ảo, bản tánh là thanh tịnh.

Lấy ví dụ cái khăn đó như sáu giác quan của mỗi người. Muốn tu tập, thì chọn một căn nào tủy vào mỗi người để tu. Chọn đúng căn, tu hành rốt ráo thì đạt quả niết bàn, các căn khác cũng niết bàn. “ Muốn giải tỏa thắt kết thì phải mở nơi trung tâm thắt kết. A Nan, ta thuyết pháp từ nhân duyên ra, chẳng phải lấy tướng thô hòa hợp của thế gian. Như Lai phát minh pháp thế gian và xuất thế gian, đều biết rõ bản nhân của nó theo sở duyên gì mà ra; cho đến quá trình dời đổi của một giọt mưa ở ngoài hằng sa thế giới, trước mắt các thứ tòng thẳng, gai cong, cò trắng, quạ đen v.v..đều rõ nguyên do. A Nan! Nay tùy ngươi lựa chọn một căn nơi Lục căn, nếu giải tỏa được gốc căn thì tướng trần tự diệt, vọng tưởng liền tiêu, vậy chẳng phải chơn là gì »

Khi mở gút khăn, không thể mở một lần mà được 6 gút, cần phải tuần tự. việc tu chứng cũng không phải ngay một lúc mà đạt quả vị vô thượng bồ đề mà phải tuần tự chứng đạt «  Giải tỏa lục căn cũng như vậy, căn này vừa bắt đầu giải tỏa thì được Nhân Ngã Không, nếu tánh Không sáng tỏ, thì Pháp Ngã giải thoát, thành tựu pháp giải thoát xong, cả hai thứ Không đều chẳng sanh, ấy gọi là từ Tam Ma Địa, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn của Bồ Tá ».

Các pháp tu đạt viên thông được các vị A la hán giới thiệu

Pháp tu « Nghe pháp = thanh trần » của Kiều Trần Như

Trong nhóm năm vị Tỳ Kheo, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng:

– Con ở Lộc Uyển và Kê Viên được lời dạy của Phật khi mới thành đạo, do âm thanh Phật ngộ Tứ Thánh Đế. Khi đó, Phật hỏi các Tỳ Kheo, con là người ngộ giải trước tiên, Như Lai ấn chứng cho con tên là A Nhã Đa (ngộ giải), được diệu âm mật viên. Con do âm thanh mà đắc quả A La Hán, Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng của con, thì Âm Thanh là hơn cả.

Tương tự, các pháp tu khác tự hiểu và trình bày đại ý, nắm ý không cần thuộc.

  1. 9.                 (Bài 11) Pháp tu quán thế âm

Nội dung bài này, giới thiệu phương pháp tu của quán thế âm. Và công đức tu tập hạnh lắng nghe.

Để tu tập cần đến phương pháp Văn – Tư – Tu ( (Văn, Tư, Tu là Văn nơi tai, Tư nơi Tâm, Tu nơi Hạnh).

Tu Tập pháp tu quán thế âm là vượt qua năng và sở của của tánh nghe. Phải hiểu “ năng là mình; sở là khách trần”. Khi nghe một âm thanh, âm thanh là “sở nghe”, mình là “năng  nghe”. Nghe âm thanh nhưng tâm vẫn thanh tịnh, không bị âm thanh chi phối. Nghĩa là “ sở nghe” đã bị ta tiêu diệt, sở nghe tiêu diệt thì “ động và tịnh” của âm thanh cũng không còn. Khi đó hai tượng “ năng và sở” cũng không còn. Vì còn hai tướng là còn đối đái, trong khi chỗ rốt ráo không có hai tướng chỉ là chân như.

Tham khảo thêm đoạn trích trong kinh về ý nghĩa đó “Bước đầu ở trong sự nghe được nhập lưu (chẳng chạy theo lục trần) mà quên cái sở nghe (vong, sở: vong nghĩa là quên). Sở nhập đã tịch, thì hai tướng động và tịnh chẳng sanh, như thế dần dần tiến thêm, thì năng nghe và sở nghe đều hết; sự hết năng sở của nghe cũng chẳng trụ. Còn biết chẳng trụ thì còn năng giác và sởgiác, nên phải Không cái năng giác sở giác, thì sự Không giác ấy mới cực viên tròn; năng giác sở giác được Không đến cùng tột, là nhập vào chỗ Không, nhập vào chỗKhông thì còn trụ nơi Không, nên năng không sở không cũng phải diệt. Năng sởcủa Không diệt rồi thì tất cả sự sanh và diệt đều hết, sanh diệt đã diệt, thì tịch diệt hiện tiền, thình lình siêu việt thế gian và xuất thế gian”.

Ba mươi hai thân ( lưu ý ở phần này kông liệt kê mà cần phải hiểu những đại ý qua 32 hóa độ trong phật giáo đại thừa).

Đạt được nhĩ căn viên thông ( không còn năng và sở của tánh nghe) và theo Từ lực có 32 thân để hóa độ chúng sanh. 32 thân nói lên tinh thần hoằng pháp, dấn thân mạnh mẽ vào xã  hội để độ sanh, đó là lý tưởng bồ tát của đại thừa. số lượng 32 thân nói lên phương pháp độ cần phải tùy căn cơ, quốc độ. Và hiểu được thực tế, mang tính thiết thực thì hoằng pháp mới thành tựu.

  1. 10.            ( bài 12) nền tảng đạo đức, vượt qua dâm, sát, đạo vọng

Con đường tu học của Phật giáo là giới định tuệ.  Dù tu nhân thừa hay bồ tát thừa trước tiên phải tu tập Giới. Và phát nguyện hoằng pháp, hay thiết lập đạo tràng cũng lấy giới làm nền tảng. Trong đó Sát đạo dâm vọng là bốn nguyên tắc đạo đức ( giới) căn bản để tu tập, và muốn thiết lập xã hội hạnh phúc thì cũng từ bốn nguyên tắc căn bản này. Nếu chúng sanh lục đạo trong thế giới, tâm chẳng dâm dục, thì chẳng theo dòng sanh tử tương tục. Nên giữ giới là vượt qua tâm dâm dục ( ái).

Trước khi đi vào thiền định điều kiện tiên quyết đó là giới phải thanh tinh. Cho nên trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật dạy cho ngài A nan tu thiền định cốt lõi là phải chuyển Tham ái, sát hại, ăn mặn, trộm cắp, vọng ngữ.

Vì Kinh Lăng Nghiêm dạy “nếu chẳng dứt dâm dục mà tu thiền định, cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dù trải qua trăm ngàn kiếp, cũng chỉ là cát nóng. Và không dứt dâm dục thì tu thiền kết quả sẽ làm quyến thuộc của ma” . Và “ Ngươi dạy người đời tu Tam Ma Địa, trước nhất phải dứt dâm dục, ấy là lời dạy bảo rõ ràng trong sạch, gọi là nghĩa quyết định thứ nhất của chư Phật”.

Tương tự, các căn bản giới khác cũng giải thích tương tự như giới Dâm trên.

  1. 11.            ( bài 13) Khi Tâm chú là chánh niệm

Phương pháp tu tập, chuyển hóa phiền não của Phật giáo duy chỉ có thiền. “ Thiền” ở đây không phải là tông phái mà hiểu là phương pháp tu tập. Tất cả pháp môn khác chỉ là hình thức khác của thiền để độ chúng sanh. Niệm Phật trì chú cũng là thiền bởi vì cần phải có chánh niệm và định tâm.

Tâm chú chính là chánh niệm là nghĩa đó. Thần chú đức Phật nói ra đều từ tâm chánh niệm thanh tịnh của Ngài, nên thần chú chính là tâm chú. Người tu tập mật tông không vọng tưởng đến năng lực của nó mà cần phải rõ đây là phương tiện để đạt chánh niệm tâm minh.

Để tu tập thần chú cần phải quán chiếu: dục vọng như bụi bay theo chiều gió; nương tựa vào sa môn thanh tịnh vì khi tu cần phải có môi trường, thiện tri thức, chưa gì tự mình muốn độc lập, ngã mạn tưởng  mình tài giỏi thì chẳng khác hổ ly sơn hổ bại. Và để đi đến chỗ rốt ráo hạnh lành thì cần có tâm vị tha, hóa độ phát nguyện thành lập đạo tràng, trên cơ sở giới định tuệ.

Kết quả tu tập tâm chú

Kinh Lăng nghiêm Phật nói “ Người trì tâm chú, lửa chẳng thể đốt, nước chẳng thể chìm, độc chẳng thể hại, cho đến tất cả ác chú của các Thiên Long, quỷ thần, yêu tinh, ma mị đều chẳng thể dính mắc, tâm được chánh thọ, tất cả bùa chú, yểm cổ, kim ngân độc dược, cỏ, cây, sâu, rắn, độc khí muôn loài, vào miệng người ấy đều thành cam lồ. Tất cả ác tinh, quỷ thần, dù có độc tâm hại người, đối với người ấy cũng chẳng thể khởi ác; các ác quỷ vương Tần Na, Dạ Ca (đầu heo mũi voi) cùng các quyến thuộc, đều thọ ơn Phật, thường gia hộ người ấy”, Được thiện thần bảo hộ. Kết quả này không riêng gì người tu tập tâm chú mới có., mà tất cả những ai sống với tánh giác chính mình, không bị trần cảnh chi phối đều có những kết quả này.

Bài 14, 16 và 17 bỏ

  1. 12.                         ( Bài 15) nguyên nhân khổ đau và sanh tử

Vọng kiện và tập khí

A Nan! Bản tánh của tất cả chúng sanh vốn chơn thật trong sạch, vì vọng kiến mà vọng sanh tập khí, do đó chia thành nội phần và ngoại phần. A Nan! Nội phần tức là phần trong của chúng sanh( chính mình); Ngoại Phần tức là phần ngoài của chúng sanh ( trần cảnh).

Mười tập nhân khổ đau

Dâm Tập giao tiếp:  từ ái sanh rat ham đắm cọ sát với nhau  mãi không thôi, đây là nhân căn bản của khổ đau và đọa vào địa ngục ôm trụ đồng, nằm giường sắt nóng; Tham tập giao kế: lòng tham sẵn có nơi mỗi người, nên thu hút lẫn nhau, kết dín với nhau. Tham tập đọa vào địa ngục hàn băng; Mạn Tập giao lăng: phát nơi ỷ thế, lấn áp không thôi nên sanh ra sân hận, tranh đấu. Đọa vào địa ngục chịu hình phạt sông huyết, sông tro, uống nước đồng; Sân Tập giao xung: phát nơi chống đối chống mãi không thôi, tâm nóng nảy phát lửa, đúc khí thành kim loại, thế nên có những việc đao sơn, kiếm thụ,rìu, búa, thương, cưa, như người bị hàm oan thì sát khí nổi lên; Trá Tập giao dụ (dụ dỗ nhau), phát nơi quyến rũ, lôi kéo chẳng thôi, thế nên có những việc dây, cây, thòng lọng, căng nọc, như nước thấm ruộng thì cỏ cây sanh trưởng. Hai tập khí kéo nhau mới sanh những việc gông, cùm, xiềng, xích, roi, gậy, đòn v.v… ; Cuồng tập giao khi (lừa gạt), phát nơi phỉnh gạt, gạt mãi không thôi, buông tâm gian dối. Hai tập khí dìm nhau, mới sanh những việc chìm đắm, nhảy, ném, bay, rơi, trôi lăn; Oán Tập giao hiềm (hiềm khích), phát nơi sân hận, thế nên có sự quăng đá, ném gạch, hộp nhốt, cũi nhốt, rọ nhốt, đãy bọc, như người hiểm độc ôm ấp điều dữ. Hai tập khí nuốt nhau, mới sanh những việc ném, quăng, nắm, bắt, đánh, bắn, tóm, siết v.v…; Kiến Tập giao minh (kẻ thông minh ham kiến chấp), như năm thứ ác kiến và các nghiệp tà ngộ, vì kiến giải khác nhau nên chống trái lẫn nhau, ví như người lạ điđường qua lại gặp nhau, cãi cọ thưa kiện, nên có các cấp quan lại, nắm giữ hồsơ văn bản đối chứng; Uổng Tập (vu vạ) giao xen, phát nơi vu khống phỉ báng; thế nên có hợp sơn, hợp thạch, cối nghiền, cối xay, như kẻ gièm pha vu oan người lương thiện; Tụng Tập giao thuyên (thưa kiện cãi vã), phát nơi che giấu tội lỗi; thế nên có gương soi, đuốc chiếu, như đứng giữa mặt trời, chẳng thể giấu bóng.

Lục giao báo: đây là sáu hiện tượng lúc lâm chung thọ lãnh quả báo

Kiến giao báo chiêu cảm ác quả: Khi kiến nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết, thấy lửa hồng cháy khắp mười phương, thần thức người chết bay rơi theo khói, vào ngục A-Tỳ, phát minh hai tướng: Một là thấy sáng, khắp thấy mọi thứ hung dữ, sanh khiếp sợ vô cùng; hai là thấy tối, mịt mù chẳng thấy gì, sanh hoảng hốt vô cùng; Văn Báo chiêu cảm ác quả. Khi văn nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung trước hết thấy sóng cuộn chìm ngập trời đất, thần thức người chết theo dòng nước trôi vào ngục A-Tỳ, phát minh hai tướng: Một là nghe rõ các tiếng ồn ào, tinh thần rối loạn; hai là điếc hẳn, lặng lẽ chẳng nghe gì, thần thức chìm lịm; Khứu Báo chiêu cảm ác quả. Khi khứu nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết, thấy hơi độc đầy dẫy xa gần, thần thức người chết từ dưới đất trào lên, vào ngục A-Tỳ, phát minh hai tướng: Một là ngửi thông bị các hơi độc xông vào, nhiễu loạn tâm thần; hai là nghẹt thở, hơi thở chẳng thông, làm chết giấc dưới đất; Vị Báo chiêu cảm ác quả. Khi vị nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy lưới sắt phát lửa bừng cháy, che khắp thế giới; thần thức người chết sa đọa mắc lưới, treo ngược đầu xuống, vào ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: một là hít hơi vào, kết thành băng giá, làm nứt nẻ thân thể, hai là thở hơi ra, bay thành lửa hồng đốt cháy xương tủy; . Xúc Báo chiêu cảm ác quả. Khi xúc nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy núi lớn từ bốn phía hợp lại, chẳng còn đường ra; thần thức người chết thấy Thành Sắt lớn, rắn lửa, cọp, sói, sư tử, ngục tốt (người gác ngục) đầu trâu, La Sát, đầu ngựa, tay cầm thương, xóc, lùa vào cửa thành, hướng về ngục A Tỳ, phát minh hai tướng: Một là hợp xúc, núi hợp lại ép thân, xương thịt tuôn máu; hai là lìa xúc, dao gươm đâm chém, tim gan bị cắt xẻ; Tưởng Báo chiêu cảm ác quả. Khi tưởng nghiệp giao báo, thì lúc lâm chung, trước hết thấy gió bão thổi nát quốc độ; thần thức người chết bị thổi lên hư không, xoay rơi theo gió, đọa ngục A-Tỳ, phát minh hai tướng: Một là chẳng giác, mê muội vô cùng, bỏ chạy không thôi; hai là chẳng mê, hay biết các khổ, bị đốt cháy không cùng, đau đớn khổ sở.

390616_658040190879759_1781470555_n

THÔNG BÁO

THÔNG BÁO

Kính thưa quý thầy cô khoa triết. Theo như thông báo từ Văn Phòng Học Viện. Trong học kỳ 8. Sinh viên nào  nghỉ quá tiết qua định. Thì sẽ đóng tiền phạt để được dự thi trong kỳ học này.

Thời  hạn cuối cho việc đóng tiền phạt để được dự thi trong học kỳ này là hết ngày 06/05/2013.

Số tiền đóng phạt: 150.000 đồng.

Kính chúc quý thầy và quý sư cô thân tâm an lạc

Lớp phó học tập

Thông báo khẩn

Ngày mai ( thứ tư, ngày 02 tháng 5 năm 2013), học và ôn thi môn Tư tưởng Phật giáo Việt Nam

Kính báo

Lớp phó học tập

Thông báo nộp tiểu luận và soạn bài thi

1. Ngày nộp tiểu: ngày 04 tháng 5 năm 2013. Thời gian từ 8h30 đến 14h cùng ngày.

2. Do vì thời gian chúng con bận, việc soạn bài cho lớp sẽ chậm, vì thế thay mặt lớp, chúng con kêu gọi huynh đệ nào phát tâm soạn trọng tâm ôn thi hoặc đã soạn hoan hỷ gởi về địa chỉ mail thichantan@gmail.com để chung con biên tập lại chia sẻ đến lớp.

Kính báo

Ban biên tập

Thông báo trọng tâm thi môn kinh Thủ Lăng Nghiêm

1. Học thi theo tiêu đề bài hoc.

2. Bỏ hai nội dung: 1) 50 loại ma và 52 cấp chứng ngộ

3. đề ra tự luận không phải dạng trắc nghiệm.

BÀI SOẠN ĐẠI Ý MÔN THẦY VIÊN TRÍ

 

BÀI SOẠN ĐẠI Ý MÔN THẦY VIÊN TRÍ

1.Nguyên nhân ra đời phật giáo nguyên thủy

Xã hội:

Nhân chủng: .

Văn hóa + chính trị

2.Nguyên nhân phật giáo đại thừa xuất hiện

Sự chuyển biến trong giáo lý Phật giáo:

Sự phục hưng của đạo Hindu:

Khủng bố của triều đại Sunga:

Ảnh hưởng nhiều truyền thống khác nhau:

Phật đà luận: .

Giai đoạn phát triển mang tính trong nội bộ:

Sức ép của hàng cư sĩ tại gia:

Nhu cầu truyền bá PG đến các bộ tộc:

3. trình bày ba hệ thống kinh điển của nguyên thủy, bộ phái, đại thừa.

Nguyên thủy phật giáo:

Bộ phái phật giáo:

Đại thừa phật giáo:

4.Triết lý của phật giáo nguyên thủy

a.      Tinh thần thiết thực hiện tại:

b. Phương pháp của PG Nguyên Thủy.

c. Lấy pháp làm trung tâm:  

* Pháp tính hiện tượng:

* Pháp giới lý tưởng:

 Quan điểm Tôn Giáo của đạo Phật Nguyên Thủy:

a.      Trách nhiệm cá nhân:

b. Tự do tư tưởng:

c. Nhân Duyên Luận:

d. Tính Nhân Bản của Đạo Phật:

5. Triết lý đặc thù của phật giáo đại thừa

Triết lý bố tát

Xu hướng thời đại

Phật thân luận…

6.Giải thích học thuyết vô ngã của nguyên thủy và đại thừa

Học thuyết vô ngã của nguyên thủy:

Học thuyết vô ngã của đại thừa:

7. Trình bày quan niệm niết bàn nguyên thủy

– Hữu dư y niết bàn:

– Vô dư y niết bàn:

Niết bàn của PGNT có thể trình bày qua 3 phương diện:

 Luân lý:

Tâm lý:

Siêu hình:

8. trình bày học thuyết duy thức

Do tâm Sở tạo:

Tức Tâm sở hiện:

Nhân Tâm sở sanh:

Ảnh Tâm Sở hiện

Tùy tâm sở thuyết:

9. Bồ Tát Trong Nguyên Thủy Và Đại Thừa Thừa

Sự giống nhau:

Sự khác nhau:

 

 

TRỌNG TÂM ÔN THI CÁC MÔN HỌC – CẬP NHẬT BÀI VỞ TRÊN BLOG

I. Trọng tâm ôn thi các môn học:

a. Thành Thật Luận: gồm có 3 câu hỏi:

1.Ý nghĩa thập hiệu ( khi làm bài ngoài phần giải thích nhớ thêm những trích dẫn và thuật ngữ)

2. Nêu các công đức của Tăng và vai trò của Tăng đoàn trong hiện tại ( gồm 2 ý: ý thích nhất là làm theo Thành Thật Luận về công đức của Tăng; ý 2 là nêu lên những suy tư nhận định của mình về Tăng đoàn trong hiện tại)

3. phân tích nguyên nhân Tham khởi và giải thích tác hại của tham ( có hai ý chính: 1 là nêu lên nguyên nhân; 2 là giải thích tác hại ( nhớ có vị dụ minh chứng)).

b. Phật giáo đại thừa và Phật giáo tiểu thừa, trọng tâm ôn thi gồm những phần sau:

1. Nguyên nhân đưa đến sự ra đời của Phật giáo Nguyên thủy? ( khi làm nêu ra những vấn đề về xã hội, chính trị, triết học, kinh tế. ví dụ từ kinh tế đồ đồng sang đồ sắt => đời sống được nâng cao => tư duy mới => tư t ưởng mới => phật giáo nguyên thủy ra đời).

2. những đặc điểm ( nguyên nhân) ra đời Phật giáo đại thừa?

3. trình bày 3 hệ thống kinh điển của Nguyên Thủy -bộ phái và đại thừa?

4. những đặc thù của Phật giáo Nguyên Thủy?

5.   trình bày 3 hệ thống kinh điển của nguyên thủy – bộ phái và đại thừa?

6. những đặc thù của phật giáo nguyên thủy

7.       những đặc thù của triết lý đại thừa

8.       hãy giải thích về học thuyết vô ngã và đại thừa. ( nguyên thủy: pháp vô ngã  do duyên sinh; đại thừa chân không diệu hữu)

9.        hãy trình bày về quan niệm niết bàn của nguyên thủy

10        hãy trình bày về học thuyết duy thức

11      giáo lý bồ tát trong nguyên thủy và đại thừa. ( học thuyết duy thức xây dựng trên học thuyết duyên khởi)

c. Tư tưởng Phật giáo Việt Nam: Những tư tưởng đặc sắc của Phật giáo Việt Nam từ thời kỳ đầu đến nay.

B. Cập nhật bài vở trên blog

1. chúng con mới cập nhật đầy đủ tài liệu giảng viên về các môn học. quý thầy cô vào mục tư liệu giảng viên học kỳ 8.

2. trong thời gian này, chúng con thường xuyên cập nhật bài soạn ôn thi và những thông báo liên quan về học tập, nên quý thầy cô hoan hỷ thường xuyên cập nhật. trong lúc không gặp mặt để thông báo thì blog là cổng thông tin chính của khoa.

kính báo

ban biên tập

Thông Báo Đến Các Huynh Đệ Khoa Triết Một Số Thông Tin

  1. A.    Thông tin về học tập:
  2. Thời gian nộp tiểu luận: ngày 2 tháng 5 năm 2013
  3. Thời gian thi: từ ngày 08 – 15 tháng 5 năm 2013
  4. Ngày học cuối cùng: ngày 04 tháng 5 năm 2013
  5. Tài liệu ôn thi và những thông tin khác, quý thầy cập nhật blog của khoa
  6. Ngày chia tay khoa triết 14h ngày 16 tháng 5 ( sau ngày thi 1 ngày) ( tai Học viên)
  7. Đóng tiền xuất bản tập kỷ yếu, phim và ngày lễ chia tay 350 ngàn đồng.
  8. B.     Du lịch Bắc Nam cuối khóa
    1. Thời gian đi: 12 ngày
    2. Điểm du lịch: từ thành phố Hồ Chí Minh đên Lạng Sơn
    3. Số tiền: 4.600.000 ( bốn triệu sáu trăm ngàn)
    4. Ngày đi: sau ngày làm lễ tốt nghiệp 2 ngày.
    5. Đăng ký: trực tiếp hai vị lớp phó phong trào hoặc trực tiếp An Tấn.
    6. Thời gian đăng ký: từ ngày ra thông báo đến ngày 26 tháng 4 năm 2013
    7. 7.      Lưu ý:

–         số tiền được chia là hai lần. khi các huynh đệ đăng ký đóng 2 triệu, ngày lên xe đi đóng thêm 2,5 triệu. số tiền đã đăng ký ban tổ chức chúng con không hoàn trả lại

–         Số tiên trên đã bao ăn uống, khách sạn, tiền xe.

  1. C.    Thông tin về Hội Cựu Sinh Viên Khoa Triết Học Phật Giáo – Khóa 8
  2. Ngày họp mặt truyền thống khoa triết 10 tháng 2 ( hằng năm)
  3. Địa điêm họp mặt chùa An Lạc ( 73/16 Nguyễn Thái Sơn, phường 4, quận Gò Vấp, tp. HCM – đt của sư cô Chơn Hiếu ( thành viên khoa triết – trụ trì chùa An Lac – 01226668997)
  4. Tiền quỷ hoạt động hằng năm 200 ngàn. Quý thầy cô đóng trực tiếp cho thư ký ( sc Huệ Nghiêm hoạc qua số tài khoản Ngân hang quốc tế VIP, tên tài khoản NGÔ QUÝ THÀNH, số tài khoản 627704060240349
  5. Ban liên lạc Hội Cựu Sinh Viên Khoa Triết Học Phật Giáo – Khóa 8

4.1      Trưởng ban: Thích Minh Bảo – đt 0908000590

4.2      Phó ban: Thích An Tấn – đt 0937570449

Thích Thanh An ( phụ trách các tỉnh miền Trung) dt: 0978420095

Thích nữ Thanh Nguyên ( phụ trách các tỉnh miền Trung) dt: 0935336939

4.3      Thư ký: sc Huệ Nghiêm: 0938807599

4.4      Thủ quỹ: sc Viên Hạnh: 01678996145

  1. Quy định xuất tiền quỹ:

–         Thầy tổ bệnh hoặc viên tịch – số tiền 700 ngàn

–         Cha mẹ của thành viên  bệnh nặng hoặc qua đời – số tiền 700 ngàn

–         Huynh đệ bổ nhiệm trụ trì hoặc bệnh nặng – số tiền 700 ngàn

–         Ngày họp mặt truyền thống của hội

  1. Trang thông tin chính của hội:vanhanh.vn
  2. Những hoạt động của hội: khi quý thầy cô ra trường, tham gia hoạt động Phật sự cần đến sự hỗ trợ giảng sư, người hướng dẫn khóa tu, lãnh vực văn nghệ, quay phim, nhiếp ảnh, ca sĩ, nghệ sĩ, hay MC v.v… quý thầy cô liên lạc đến các vị trong ban liên lạc để hỗ trợ. Đây cũng là lý do chính để thành lập hội.

Kính chúc quý thầy cô thân tâm luôn an lạc và chúng con luôn mong quý thầy cô gắn kết lại để những ước mơ và hoài bảo của mỗi thành viên được hiện thực.

Kinh báo

An Tấn

BÀI HỌC VỀ KHÁI NIỆM KHÔNG – VÔ THƯỜNG – MÔN THÀNH THẬT LUẬN

Satyasiddhi-śāstra

Luận Thành Thật

Triết Học Phật Giáo

HVPGVN tại TP.HCM

Lớp Cao Đẳng Phật Học TP.HCM

Giảng viên:

Thượng tọa Thích Giác Hiệp


KHÔNG, VÔ THƯỜNG
(Vô tướng 20, Tứ đại giả danh 38, Vô thường tưởng 173)

I. GIỚI THIỆU:

Śūnyatā  (S), suññatā (P)= emptiness, openness, thusness=

Khái niệm căn bản của Phật giáo

Tính chất của vạn hữu

Khái niệm tính không của mỗi trường phái Phật giáo khác nhau

Mỗi trường phái giải thích tính không theo quan điểm của mình

II. NỘI DUNG

KHÔNG:

1) Không có một pháp vĩnh hằng

2) Không có một pháp nào độc lập

3) Không có một pháp nào có thật tính

–                      Pháp quá khứ, vị lai vô thể, pháp trong sát na hiện tại duyên sinh

– 又佛法中以方便故說一切有一切無。非第一義。所以者何。若決定有即墮常邊。若決定無則墮斷邊。離此二邊名聖中道(Đ.32.256.2)

Cửa ngõ vào Đại thừa

  1. 1.     Ý nghĩa không trong Phật giáo:
  2. 2.     Không và nơi thực tập thiền định:

猶如空舍宅  牟尼心虛寂(Đ.2.285.2)

–                      Tu đạt trạng thái tâm như hư không

–                      Hư không theo luận Thích Ma Ha Diễn

+ 無障礙

+ 周遍

+ 平等

+ 廣大

+ 無形相

+ 清淨

+ 不動

+ 有空

+ 空空

+ 無得

2) Không Tam muội và không giới:

Trạng thái thiền cao

我今於林中入空三昧禪住。佛告舍利弗。善哉。善哉。舍利弗。汝今入上坐禪住而坐禪。(Đ.2.57.2)

Không Tam muộiàkhông còn tham, sân, si

Quán không giớiàvô ngã

3) Duyên khởi tính không:

–             Các pháp vi diệu đềuàlàm rõ không tướng

–    於彼如來所說甚深明照空相 (Đ.2.345.2)

Tính không dựa trên lý duyên khởi, theo dạng thức:

“Đây hiện hữu nên kia hiện hữu, đây khởi nên kia khởi, đây không hiện hữu nên kia không hiện hữu, đây diệt nên kia diệt.”

4) Duyên khởiàkhôngtrung đạo:

Duyên khởiàxa lìa 2 tri kiến cực đoan=trung đạo

Tri kiến cực đoan=thường, đoạn kiến

Chánh tri kiếnđoạn trừ cực đoan

Chánh tri kiến=非顚倒見是名正見=離諸望妄智慧=正見是智慧

Trung đạoàthoát luân hồi sinh tử

Tính không dựa vào duyên khởi-trung đạoàdiệt trừ cực đoan

Chứng Niết-bàn=dứt khổ=không còn ngã kiến, tham, sân, si

 

5) Chân không diệu hữu:

Tư tưởng không khởi nguyên từ kinh Bát nhã

Chân không diệu hữu # hư vô chủ nghĩa

=chân như tự tính không

phá hết ngã chấpàtâm cảnh tự tại

Chân không=bản lai tự tính của chân đế

Diệu hữu=bản lai tự tính của tục đế

Chân không=không tính (śūnyatā)

Diệu hữu=phương tiện (upāya)

Trí tuệàsử dụng phương tiện thiện xảo (upāya kauśalya)

6) Nhận thức không:

Do giả tương tục

Do tuần hoàn

Giả hợp

Sự tương đối

Tướng trạng giả

Từ nhận thức bất đồng

Tánh không của Kinh Lăng già:

Đặc tánh cá nhân đều không (lakṣaṇā)

Không có tự thể (bhavasvabhāva)

Vô hữu chư hành (Apracarita)

Hành không (pracarita)

Các pháp vốn không (nirbhilakāya)

Bỉ thử không (itaretara)

2. Thiền quán không trong Phật giáo sơ kỳ

Không=vô ngãàthấy tính không của Niết-bàn

Không=xa lìa tham đắm

Tâm định tĩnh=tâm giải thoátànhờ tu Tam muội:

+ Không Tam muội

+ Vô tướng

+ Vô nguyện

Tính không là điểm giáo lý quan trọng

Nhưng Không không phải chủ đề nghiên cứu của Nguyên thủy.

Thuật ngữ không chưa thịnh hành trong Nguyên thủy bằng 3 thuật ngữ: vô thường, khổ, vô ngã

 

 

Nghĩa thông thường liên quan đến khoảng không nơi tu tập thiền định

Nghĩa chính yếu không là vô ngã

Nghĩa rộng từ không liên quan đến niết-bàn

Chân không diệu hữuàphá hết ngã chấp, và đạt được “tâm cảnh tự tại”

以有空義故  一切法得成

若無空義者  一切則不成 (Đ.30.33.1)

 

B. Vô thường

一切法皆從緣生。因緣壞故皆歸無常。(Đ.32.346.3)

Pháp do duyên sinh

Các pháp không ngoài 4 tướng

Tác động đến thân, thân, tâm

Ngoại cảnhà蒼海桑田

觀色無常虛妄如幻誑無智眼。(Đ.32. 364.3)

PG: thiên di, dời đổi, biến dịch=vô thườngàvô ngã

Nho: dịch hóa, chuyển biến, thay đổi

Vạn pháp không có tính cố định, biến đổi không ngừng

 

 

Pháp vừa sinhàdiệt, tan rã. Diệt, tan ramở đầu cho pháp khác sinh

Tuần hoàn tiếp nối

Thực tại không dừng nghỉ

Nhân quả tiếp nối như vòng xích, không đầu mối

Bỉ thử, nhân quả tiếp nối vô cùng tận

Duyên sinh=sự hỗ tương sinh khởi

Không hiện tượng nào ngẫu nhiên có

Thành và không là tương đối. Không không có nghĩ đoạn diệt. Khônglại làm nhân cho 1 pháp mới

Vô thường=thiên di, dời đổi, biến động

 

無常想者。能建立無我想。聖弟子住無我想。心離我慢。順得涅槃。(Đ.32.71.1)

III. Kết luận

Các pháp luôn trong quá trình thay đổi

Pháp không có tính vĩnh hằng

Không có tính độc lập

Không có thật tính =không

 

 

ĐỀ TIỂU LUẬN VÀ THUYẾT TRÌNH CÁC MÔN HỌC

I. Đề tiểu luận các môn học:

1. Kinh Thủ Lăng Nghiêm: đề tự do

2. Phật giáo đại thừa và tiểu thừa:  sự liên hệ giữa phật giáo nguyên thủy và phật giáo đại thừa

3. Tư tưởng Phật giáo Việt Nam: gồm có 4 đề:

a) Tư tương thiền học Phật giáo Đại Việt

b) Phương thức hoằng pháp của Phật giáo đời Trần

c) Tư tưởng thiền học của Tuệ Trung Thượng sĩ qua tác phẩm Thượng Sĩ Ngữ Lục

d) Những tư tưởng cốt lõi của đạo Phật nước ta thời du nhập

4. Thành Thật Luận: gồm có 8 đề:

  1.  Trình bày ý nghĩa các loại Thiền định
  2. Phân tích nguyên nhân tham khởi và giải thích tác hại của tham
  3. Cho biết đặc tính của sân và phương pháp đoạn trừ sân
  4. Phân tích, nhận định đoạn trích trong Kinh Tương Ưng, kinh Vô minh như sợi dây thừng:

Có thể có một thời, này các Tỳ kheo, biển lớn đi đến khô cạn, hoàn toàn đi đến khô kiệt, không có hiện hữu. Nhưng này các Tỳ Kheo, Ta không có tuyên bố rằng, có sự chấm dứt khổ đau, chấm dứt lưu chuyển, luân hồi đối với chúng sanh bị vô minh che đậy, bị khát ái trói buộc.

5. Ý nghĩa thập hiệu

6.Ý nghĩa 10 công đức của Pháp

7. Nêu các công đức của Tăng và vai trò của Tăng trong hiện tại

8. Trình bày nội dung Tứ nhiếp pháp

 

* Những lưu ý:

1. Kinh Thủ Lăng Nghiêm là bộ kinh đại thừa, đứng trên bản thể luận. Cho nên huynh đệ chọn những đề tài mang tính bản thể. Có thể chọn 3 phương hướng để làm: a) hướng phân tích; b) hướng so sánh; c) hướng ứng dụng.

2) Đại thừa và sự liên hệ với tiểu thừa: có thể chọn một tư tưởng nào đó của Đại thừa và chứng minh rằng tư tưởng nảy đã có trong phật giáo Nguyên thủy. ví dụ tư tưởng tánh không, tư tưởng nhập thế, tư tưởng bồ tát đạo, tư tưởng tùy duyên bất biến…

3. Tư tưởng Phật giáo Việt nam: tham khảo dàn bài mà giáo viên đã hướng dẫn và chúng ta bổ sung nội dung vào. dưới đây là dàn bài mà giảng viên đã hướng dẫn:

1. Tư tương thiền học Phật giáo Đại Việt

A.DẪN NHẬP

B. NỘI DUNG

1.Khái quát về Phật Giáo đời Trần

1.1.Vài nét về Phật giáo nhất tông đời Trần

1.2. Sự ra đời của thiền phái Trúc Lâm

2. Tư tưởng thiền học Phật giáo đời Trần

2.1. Tư tưởng Phật tại tâm

2.2. Tư tưởng Phật và chúng sanh không khác

2.3. Học thuyết sư trần lạc đạo

2.4. Tinh thần Phật giáo đời Trần

3. Ảnh hưởng của Phật giáo trong thời hiện đại

3.1. Sự phát triển của Phật giáo Việt Nam

3.2. Đóng góp xã hội

2. Phương thức hoằng pháp của Phật giáo đời Trần

  1. Dẫn nhập
  2. Nội Dung
  3. Khái niệm phương thức hoằng pháp

1.1.        Phương thức

1.2.        Hoằng pháp

  1. Phương thức hoằng pháp Phật giáo đời Trần

2.1.        Bối cảnh lịch sử Phật giáo đời Trần

2.2.        Phương thức hoằng pháp

2.2.1.Niệm Phật

2.2.2.Sán hối

2.2.3.Hành thiền

2.2.4. Công án

  1. Ảnh hưởng phương thức hoằng pháp thời Trần trong thời đại ngày nay

C. Kết luận

 

  1. Tư tưởng thiền học của Tuệ Trung Thượng sĩ qua tác phẩm Thượng Sĩ Ngữ Lục

 

  1. Dẫn nhập
  2. Nội Dung
    1. Giới thiệu tác gỉa tác phẩm

1.1.        Tác giả

1.2.        Tác phẩm

  1. Tư tưởng cốt lõi của thiền học

2.1.        Tư tưởng hòa quang đồng trần

2.2.        Phật và chúng sanh không khác

2.3.        Phật tại tâm

  1. Nếp sống đạo thiền

-Nói đền cội rễ hạnh phúc

  1. Kl

 

4. Thành thật luận: 8 đề của thành thật luận vừa là nội dung thuyết trình của các tổ, vừa là nội dung ôn thi và đề tài làm tiểu luận. về phần ôn thi sau này giảng viên sẽ bổ sung thêm.

kính mong chư huynh đệ nắm rõ để làm tiểu luận tốt và thi tốt.

kính đăng

Ban biên tập

IMG_2818

Mừng Xuân Di Lặc – 2013

Xuân về, chúng con kính chúc các huynh đệ khoa Triết khóa VIII có một mùa xuân thật ý nghĩa. Ý nghĩa trong từng sát na, tu và học đạt được nhiều thành tựu, mãi là bóng mát cho người thân xung quanh và chúng sanh.

những ngày xuân rãnh rỗi, chúng co tặng quý thầy cô những tấm ảnh kỉ niệm của lớp triết chúng mình.

DSCN0308

IMG_0684

IMG_0678

IMG_0741 - Copy

IMG_0494

IMG_0428

IMG_0411

IMG_0741---Copy

IMG_1412

IMG_1194

IMG_1415

IMG_1843

IMG_2686

IMG_2818

Thông Báo Danh Sách Các Tổ Trưởng – TỔ PHÓ

  1. DANH SÁCH CÁC TỔ TRƯỞNg

TỔ

PHÁP DANH

SỐ ĐIỆN THOẠI

( EMAIL NẾU CÓ)

1

THÍCH NGỘ CHƠN

TṆ VIÊN HẠNH

0984140590

01678996145

2

THÍCH PHƯỚC HUY

SC. HOÀN CHÚC

SC. TRÚC HẢI

0908238932

0937656337

0907226169

3

THÍCH THIỆN GIỚI

TṆ QUẢNG ĐÀM

0973235595

01646622831

4

THÍCH THIỆN HỮU

TṆ TUỆ HẢO

0906304441

0902766268

5

TN. THANH NGUYÊN

TṆ. HUỆ TRANG

0906196819

0909981366

6

THÍCH QUẢNG HIỀN

TṆ QUẢNG TÍN

0918596641

0918642197

7

THÍCH CHÚC TỰU

TN MINH TRIẾT

0937481379

0973040480

8

TN HOÀN TIỆP

0916710900

9

TN TUỆ THUẦN

TN THANH TRÀ

0978026100

0906264895

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 09 năm 2011

Kính Thông Báo

Thích An Tấn

Thông báo về ban cán sự lớp và phương thức hoạt động

1. Ban Cán Khoa Triết Học Phật Giáo

Pháp Danh Công Việc Số Điện Thoại
Thích An Tấn Lớp Trưởng 0937570449
Thích Giác Đức Lớp Phó Học Tập ( Tăng) 0902050401
Thích Quảng Hiền Lớp Phó Phong Trào 0918596641
Thích Huệ Thông Thư Ký 0937252919
Thích Nữ Thánh Thông Lớp Phó Học Tập ( Ni)
Thích Nữ Pháp Liên Thủ Quỹ 0919894680
Thích Nữ Giác Hạnh Châu Lớp Phó Phong Trào (Ni) 0908564197


Ban cán sự chúng con làm việc theo phương thức bậc thang. Tất cả thông báo, tài liệu, thông tin hay mọi vấn đề… chúng con sẽ làm việc với các tổ trưởng. các tổ trưởng làm việc lại với các tổ viên. và ngược lại tổ viên cập nhật từ tổ trưởng và các tổ trưởng phải hồi lại chúng con.

2. Phương thức hoạt động:

Kính mong quý sinh viên nắm phương thức làm việc này để khoa chúng ta tạo nên một sức mạnh đoàn kết và đạt được hiệu quả học tập cao nhất.

Kính báo Lớp Trưởng khoa Triết học Phật giáo